Lần duyệt xét mới nhất:Tháng Chín 2019
Cập nhật lần cuối:Tháng Sáu  2018

Giới thiệu

Điều kiện liên quan

Tình trạng
Mô tả

Viêm phổi mắc phải từ cộng đồng (CAP) được định nghĩa là bệnh viêm phổi mắc phải ngoài bệnh viện hoặc các cơ sở y tế. Đặc biệt những bệnh nhân cao tuổi thường không sốt và có thể lú lẫn và làm tình trạng bệnh nền nặng hơn. Nguyên nhân thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniae (còn được gọi là pneumococcus), được nghĩ tới đầu tiên trong viêm phổi do vi khuẩn điển hình.[1]Viêm phổi do Mycoplasma cũng là nguyên nhân chính và được nghĩ tới đầu tiên trong viêm phổi do vi khuẩn không điển hình.

Viêm phổi mắc phải bệnh viện (HAP) là nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính được định nghĩa mắc phải sau khi nhập viện ít nhất 48 tiếng và không ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Biểu hiện viêm phổi bệnh viện (HAP) hiện khác với viêm phổi do thở máy (VAP), được định nghĩa là viêm phổi xảy ra sau khi đặt nội khí quản hơn 48 tiếng. Viêm phổi liên quan đến chăm sóc sức khỏe (HCAP) không còn được xem là dạng biểu hiện lâm sàng trong hướng dẫn gần nhất dành cho HAP và VAP của Hiệp hội Bệnh Truyền Nhiễm và Hiệp hội lồng ngực Hoa Kỳ.[2] Hướng dẫn cũng khuyến cáo mỗi bệnh viện đưa ra kháng sinh đồ để hướng dẫn chọn lựa thuốc kháng sinh tại cơ sở.

Viêm phổi do virút

Các vi-rút có thể gây viêm phổi và biểu hiện như một viêm phổi không điển hình, và cũng là nguyên nhân hiếm gặp gây viêm phổi mắc phải trong bệnh viện ở người lớn có miễn dịch bình thường. Viêm phổi do vi-rút thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Căn nguyên vi-rút mắc phải ở cộng đồng thường gặp bao gồm vi-rút cúm, virus hợp bào đường hô hấp (RSV), và vi-rút á cúm. Vi-rút cúm có thể gây viêm phổi nặng và dễ bội nhiễm Staphylococcus aureus dẫn đến tỷ lệ tử vong cao ở người trẻ tuổi. Có thể gặp viêm phổi do cytomegalovirus (CMV) hoặc vi-rút varicella zoster (VZV) ở người bị suy giảm miễn dịch bao gồm những người nhiễm HIV và liên quan đến sự tái hoạt động của virus đã nhiễm từ trước. Những nguyên nhân ít gặp hơn gây viêm phổi do vi-rút bao gồm hantavirus, cúm gia cầm, và hội chứng hô hấp cấp nặng (SARS).

Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) là bệnh viêm phổi do coronavirus SARS (SARS-CoV) gây ra.[3] Các yếu tố nguy cơ bao gồm tiền sử du lịch gần đây, tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm virus, và làm việc trong phòng thí nghiệm với SARS-CoV. Bệnh nhân ban đầu xuất hiện các triệu chứng tiền triệu giống cúm. Ho (ban đầu là ho khan), khó thở, và tiêu chảy có thể biểu hiện trong tuần đầu tiên nhưng thường gặp hơn trong tuần thứ hai của bệnh. Trong các ca bệnh nặng, bệnh nhân tiến triển nhanh chóng thành suy hô hấp và mất bão hòa oxy, với khoảng 20% trường hợp cần chăm sóc tích cực.[4][5][6][7] Lây truyền chủ yếu xảy ra trong tuần thứ hai của bệnh.

Hội chứng hô hấp Trung Đông

Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) là nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do một loại vi-rút mới betacoronavirus Middle East respiratory syndrome coronavirus (MERS-CoV) gây ra. Cần nghĩ tới MERS khi có bệnh lý hô hấp nặng xảy ra trong 2 tuần sau khi sinh sống hoặc lui tới vùng Trung Đông hoặc các vùng bùng phát dịch, và/hoặc tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh. Phần lớn ca bệnh là do lây truyền từ người sang người với cao điểm các ca bệnh được khẳng định xảy ra trong các đợt bùng phát tại bệnh viện. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm bệnh đa dạng từ không có triệu chứng hoặc triệu chứng hô hấp nhẹ đến viêm phổi nặng, tiến triển nhanh, hội chứng suy hô hấp cấp tính, sốc nhiễm khuẩn, hoặc suy đa tạng dẫn đến tử vong. Điều trị chủ yếu là điều trị hỗ trợ.

Viêm phổi do vi khuẩn không điển hình gây ra bởi các vi khuẩn không điển hình không thể phát hiện được bằng nhuộm Gram và không thể nuôi cấy theo phương pháp tiêu chuẩn. Các căn nguyên thường gặp nhất là vi khuẩn Mycoplasma pneumoniae, vi khuẩn Chlamydophila pneumoniae (Chlamydia pneumoniae) và vi khuẩn Legionella pneumophila.[8] Viêm phổi do vi khuẩn không điển hình thường có đặc trưng là phức hợp các triệu chứng bao gồm đau đầu, sốt nhẹ, ho và tình trạng khó chịu. Các triệu chứng toàn thân thường nổi bật hơn so với các biểu hiện hô hấp. Mặc dù trong hầu hết các trường hợp, biểu hiện của viêm phổi mắc phải cộng đồng có thể ở thể nhẹ hơn, nhưng một số ca bệnh, đặc biệt là do vi-rút L pneumophila, có thể biểu hiện dưới dạng bệnh viêm phổi nặng, cần phải được chăm sóc tích cực.

Mycoplasma pneumoniae gây ra bệnh đường hô hấp trên và viêm phổi mắc phải ở cộng đồng. Xảy ra chủ yếu ở trẻ em và người trẻ tuổi và thường gặp ở các cộng đồng khép kín (ví dụ như các trường nội trú, các trường đại học và các căn cứ quân sự).

Chlamydia pneumoniae là một tác nhân gây bệnh đường hô hấp thường gặp ở người trên toàn thế giới và ở mọi lứa tuổi. Đây là nguyên nhân chính gây viêm phổi mắc phải từ cộng đồng. Viêm phổi do C pneumoniae khó phân biệt về mặt lâm sàng với bệnh viêm phổi do các vi khuẩn không điển hình khác, đặc biệt là Mycoplasma pneumoniae.[9]

Viêm phổi do legionella, được biết đến là bệnh Legionnaire, xảy ra khi hít phải vi khuẩn (hoặc hút phải nhưng hiếm khi xảy ra) vào trong phổi. Biểu hiện bao gồm các triệu chứng hô hấp như ho (có thể ho khan) và khó thở, sốt, gai rét, và đau ngực. Các triệu chứng khác bao gồm đau đầu, buồn nôn, nôn, đau bụng, hoặc tiêu chảy.

Viêm phổi do nhiễm nấm Pneumocystis (PCP) là tình trạng nhiễm trùng phổi gây ra bởi nấm Pneumocystis jirovecii (trước đây gọi là Pneumocystis carinii). Loại nấm này thường gây ra bệnh cảnh lâm sàng ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng, ví dụ như bệnh nhân dương tính với HIV có số lượng tế bào CD4 <200 tế bào/microlit, bệnh nhân ghép tủy xương, bệnh nhân ghép tạng đặc, hoặc bệnh nhân đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch kéo dài.

Nhiễm nấm coccidioides gây ra bởi loài nấm Coccidioides gây dịch và mắc phải do hít phải bào tử đốt lây truyền qua đường không khí trong vùng lưu hành dịch ở tây nam Hoa Kỳ, bắc Mexico, và một vài vùng ở Trung và Nam Mỹ. Nhiễm nấm Coccidioides có thể không có triệu chứng hoặc có thể gây ra các hội chứng phổi cấp tính và mạn tính, và hiếm khi gây nhiễm ngoài phổi.

Bệnh nấm aspergillosis

Bệnh nấm aspergillus xâm lấn gây ra bởi một loại nấm sợi thuộc loài Aspergillus, được tìm thấy khắp nơi trong đất. Hít phải bào tử trong không khí (bào tử) gây nhiễm trùng. Phần lớn gây bệnh ở người suy giảm miễn dịch, rất hiếm khi gây bệnh ở người có hệ miễn dịch bình thường. Các biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu và bao gồm sốt, ho, và đau kiểu màng phổi. Để chẩn đoán sớm, cần có chỉ số nghi ngờ cao. Tổn thương tại phổi, các xoang, não và da. Các u nấm (Aspergilloma) hình thành trong khoang phổi có sẵn. Thường là không có triệu chứng.

Hít sặc là hít phải dị vật vào đường thở phía sau dây thanh âm.[10] Có thể phân loại thành là tổn thương phổi do hít phải hoặc viêm phổi do hít phải. Tổn thương phổi do hít phải là tổn thương hóa học sau khi hít phải các chất trong dạ dày.

Viêm phổi hít là hậu quả của việc hít phải chất ở miệng-họng vào đường dẫn khí dưới dẫn đến tổn thương phổi và từ đó gây nhiễm khuẩn. Các yếu tố chẩn đoán chính bao gồm ho và khó thở. Các yếu tố nguy cơ mạnh bao gồm trạng thái tâm thần thay đổi (ví dụ như giảm ý thức có thể dẫn đến giảm phản xạ ho và suy giảm khả năng đóng nắp thanh môn), rối loạn chức năng nuốt (ví dụ như ở bệnh nhân đột quỵ), bệnh đường tiêu hóa trên, đặt nội khí quản hoặc mở khí quản, cho ăn qua sonde, tuổi cao, và tư thế nằm.[11][12]

Hội chứng hít phải ở trẻ sơ sinh

Viêm phổi trẻ sơ sinh có thể do hít phải, thường là hít phải phân su.[13]

Viêm tiểu phế quản tắc nghẽn với viêm phổi tổ chức hóa (BOOP) được định nghĩa là các mô tạo hạt dạng polyp ở các tận cùng đường thở xâm lấn vào các ống phế nang và phế nang.[14][15][16] Biểu hiện điển hình của viêm phế quản-viêm phổi tổ chức hóa (BOOP) vô căn là một người có biểu hiện bệnh giống cúm bao gồm sốt nhẹ, đau khớp, mệt mỏi, và ho nhẹ kéo dài từ 1 đến 3 tháng. Khó thở tiến triển sau khi BOOP gây tổn thương càng nhiều phế nang. Nghe thấy ran nổ cuối thì hít vào ở cả hai bên. Các biểu hiện khác tùy thuộc vào thể bệnh. BOOP có thể xảy ra sau viêm phổi do nhiễm trùng. Các vi sinh vật bao gồm các vi-rút, vi khuẩn, vi khuẩn không điển hình, và ký sinh trùng.[17]

Viêm phổi tăng nhạy cảm (HP), còn được gọi là viêm phế nang dị ứng ngoại sinh, là hậu quả của tình trạng viêm miễn dịch qua trung gian không phải IgE. HP do nhiều lần hít phải protein không phải của người, có thể là của thực vật tự nhiên hoặc có nguồn gốc từ động vật hoặc có thể do một chất hóa học liên hợp với protein trong đường thở của người, chẳng hạn như albumin. Tình trạng viêm của HP tự biểu hiện trong phế nang và tiểu phế quản tận. Biểu hiện lâm sàng của HP phụ thuộc vào nồng độ và tần suất phơi nhiễm. Hội chứng lâm sàng (HP cấp tính, bán cấp và mạn tính) biểu hiện khác nhau.

Đánh giá thâm nhiễm phổi dai dẳng

Thâm nhiễm phổi dai dẳng xảy ra khi một chất đặc hơn khí (ví dụ như mủ, phù nề, máu, surfactant, protein, hoặc tế bào) ở lại lâu trong nhu mô phổi. Viêm phổi không khỏi và khỏi chậm là các nhóm phân loại thường gặp nhất của thâm nhiễm phổi dai dẳng. Sự dai dẳng được cho là do khiếm khuyết trong cơ chế bảo vệ miễn dịch của cơ thể, sự xuất hiện của vi khuẩn bất thường hoặc đề kháng, hoặc bệnh giống viêm phổi.

Đánh giá khó thở

Khó thở, hay thở dốc hoặc thở hổn hển, là cảm giác chủ quan khó chịu khi thở. Nguyên nhân gây bệnh rất rộng, từ các tình trạng nhẹ, tự khỏi đến các bệnh lý đe dọa tính mạng. Các bệnh lý về tim mạch, phổi, và hệ thần kinh cơ là những nguyên nhân thường gặp nhất. Khó thở là yếu tố chẩn đoán quan trọng của viêm phổi.

Ho là triệu chứng thường gặp nhất khi bệnh nhân tới khám tại các cơ sở chăm sóc ban đầu.[18] Ho sau nhiễm trùng là nguyên nhân thường gặp nhất của ho bán cấp (ho dai dẳng trong 3 đến 8 tuần).[19] Một khi thời gian ho kéo dài quá 8 tuần, cần tiếp cận một cách có hệ thống để làm sáng tỏ nguyên nhân và điều trị tốt nhất. Các nguyên nhân gây ho mạn tính (ho dai dẳng > 8 tuần) thường gặp ở người lớn không hút thuốc với phim Xquang ngực bình thường và không sử dụng thuốc ức chế men chuyển bao gồm hội chứng ho đường thở trên, hen, bệnh trào ngược dạ dà-thực quản, và viêm phế quản tăng bạch cầu ái toan không phải hen.[20][21][22] Cần xét nghiệm thêm về viêm phổi cho bệnh nhân bị ho mạn tính (thường có đờm), tiền sử sốt, khó chịu, và đau ngực, và thăm khám thấy gõ đục, giảm rì rào phế nang, và có ran.

Người đóng góp

Các tác giả

BMJ Publishing Group

Tiết lộ thông tin

This overview has been compiled using the information in existing sub-topics.

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi