Cách tiếp cận

Bệnh cúm xảy ra trong các đợt bùng phát chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 3 ở bắc bán cầu và từ tháng 5 đến tháng 9 ở nam bán cầu. Hiểu biết về hoạt động của bệnh ở cộng đồng địa phương là quan trọng khi đánh giá khả năng bệnh nhân bị mắc cúm. CDC xuất bản một báo cáo giám sát cúm hàng tuần cho Hoa Kỳ, CDC: FluView: weekly influenza surveillance report external link opens in a new window và WHO cũng theo dõi và báo cáo tỷ lệ mắc mới bệnh cúm.

Chẩn đoán thường được thực hiện lâm sàng trong thời gian bùng phát dịch trong cộng đồng. Bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển các biến chứng, bao gồm những người có tiền sử bệnh phổi, tim, hay thận mạn tính, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và người cao tuổi, cần được đặc biệt chú ý.[15] Cần xét nghiệm thử bệnh cúm nếu điều đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định bắt đầu điều trị kháng vi-rút, đề nghị thực hiện thêm xét nghiệm chẩn đoán, tiến hành các biện pháp kiểm soát nhiễm bệnh, và giám sát trong cộng đồng sự lưu truyền bệnh cúm.[76]

Tiền sử và khám

Bệnh cúm có biểu hiện phổ biến nhất như một bệnh hô hấp cấp tính trong mùa đông. Sau giai đoạn ủ bệnh khoảng 2 ngày, sẽ khởi phát đột ngột các triệu chứng sốt cao, ớn lạnh, đau đầu, và đau cơ. Những triệu chứng toàn thân này có thể liên quan đến các triệu chứng đường hô hấp trên và dưới tương tự như chứng cảm lạnh thông thường, chẳng hạn như ho và đau họng.[77] Sự phát tán vi-rút bệnh cúm đạt đỉnh trong vòng 48 giờ kể từ khi mắc bệnh và hầu hết các ca bệnh không biến chứng sẽ khỏi trong vòng 1 tuần.[78] Bệnh cúm không biểu hiện phổ biến với các triệu chứng đường tiêu hóa nguyên phát như buồn nôn và nôn mửa, ngoại trừ ở nhóm đối tượng trẻ em. Hiếm khi xảy ra tiêu chảy với bệnh cúm và việc này có thể là dấu hiệu của viêm dạ dày ruột do vi-rút, thường được gọi là cúm dạ dày.

Trong một đợt bùng phát bệnh cúm đã biết, cần coi bất kỳ người nào có các triệu chứng sốt và hô hấp cấp tính là người có khả năng đã bị nhiễm cúm và thường có thể chẩn đoán lâm sàng với mức độ chắc chắn cao. Tuy nhiên, nếu người đó đã phơi nhiễm cúm hay một tình trạng mà trong đó bệnh cúm có thể lây lan nhanh chóng (ví dụ như du lịch quốc tế, đi tàu du lịch), cần cân nhắc chẩn đoán cúm vào bất kỳ thời điểm nào trong năm.

Mặc dù cúm không có đặc tính đặc trưng bệnh rõ ràng, bệnh ảnh hưởng đến đường hô hấp trên và dưới gắn liền với các triệu chứng toàn thân. Sốt, đau đầu, đau cơ, và mệt mỏi thường liên quan đến các triệu chứng đường hô hấp trên như đau họng và các triệu chứng đường hô hấp dưới là ho.[79] Không phải tất cả bệnh nhân mắc cúm đều có các triệu chứng này và những người có các triệu chứng này không nhất thiết mắc cúm. Nhìn chung, tới 85% số bệnh nhân mắc cúm sẽ có các triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm. Các biểu hiện nhiễm cúm cũng phụ thuộc vào độ tuổi và tiền sử tiêm chủng của bệnh nhân.[79][77]

Với các ca bệnh cúm rải rác, có thể khó phân biệt lâm sàng bệnh cúm với các tình trạng nhiễm bệnh do các vi-rút đường hô hấp khác gây ra. Trong trường hợp đó, nhiễm vi-rút cúm có thể chỉ liên quan đến một số lượng nhỏ các ca bệnh như vậy. Trong một đánh giá đối với 497 đợt nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở bệnh nhân cao tuổi sống tại cộng đồng trong mùa đông các năm từ 1992 đến 1994, mầm bệnh đã được xác định trong 43% các ca bệnh. Mầm bệnh phổ biến nhất là rhinovirus (52%) và coronavirus (26%); cúm A hoặc B chỉ chiếm 10%.[80]

Các phát hiện lâm sàng rất hữu ích, nhưng không khẳng định hay loại trừ được chẩn đoán cúm.[77] Khám bệnh có thể đạt được các kết quả không cụ thể, vì các triệu chứng thực thể thường hiếm gặp trong các ca bệnh cúm không có biến chứng. Bệnh nhân có thể có thân nhiệt cao và đỏ bừng, và họng miệng có thể có xung huyết, và than đau họng nặng. Có thể bị bệnh hạch bạch huyết cổ nhẹ và xuất hiện thường xuyên hơn ở bệnh nhân trẻ tuổi.

Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm

Vai trò của xét nghiệm trong phòng thí nghiệm là để giảm việc sử dụng thuốc kháng sinh không phù hợp và để cung cấp lựa chọn sử dụng liệu pháp kháng vi-rút. Xét nghiệm chẩn đoán, kết hợp với giám sát, cũng có thể xác định các nhóm, phân nhóm, và chủng cúm lưu thông chủ yếu.[76]

  • Cần cân nhắc xét nghiệm ngoại trú cho bất kỳ người nào có nguy cơ cao hình thành các biến chứng của cúm và người có biểu hiện ốm sốt cấp tính (tới 5 ngày).

  • Bệnh nhân ngoại trú suy giảm miễn dịch, người cao tuổi, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị bệnh hô hấp gây sốt bất kể trong bao lâu cần được khám sàng lọc bệnh cúm trong thời gian bùng phát dịch.

  • Bệnh nhân nhập viện có triệu chứng sốt hay người hình thành triệu chứng sốt trong thời gian nằm viện do viêm đường hô hấp cần được khám sàng lọc bệnh cúm.

Các xét nghiệm chẩn đoán có sẵn đối với bệnh cúm bao gồm cấy vi-rút, huyết thanh, xét nghiệm kháng nguyên nhanh, PCR, và thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang.[76][81]

Khuyến nghị dùng các bệnh phẩm mũi họng để phân lập vi-rút đối với một bệnh phẩm hô hấp. Chúng có hiệu quả hơn so với các bệnh phẩm phết cổ họng. Cấy vi-rút vẫn là một xét nghiệm xác định, bất chấp sự sẵn có của các xét nghiệm chẩn đoán nhanh. Phương thức này thường không được sử dụng để kiểm soát lâm sàng ban đầu vì phải mất đến 72 giờ mới báo cáo được kết quả. Thay vào đó, phương thức này được sử dụng để xác nhận kiểm tra sàng lọc và giám sát y tế công cộng. Chỉ các cách ly nuôi cấy mới có thể cung cấp thông tin cụ thể về các chủng lưu thông và phân nhóm vi-rút cúm. Cách ly vi-rút cũng có thể cung cấp thông tin về sự xuất hiện của hiện tượng nhờn thuốc kháng vi-rút và sự phát triển của các phân nhóm cúm A mới có thể có khả năng gây ra đại dịch.

Ở cơ sở ngoại trú, cần thu thập mẫu phết mũi, rửa, hay hút dịch trong vòng 4 ngày đầu tiên của bệnh. Các xét nghiệm cúm nhanh cung cấp kết quả trong vòng 30 phút hoặc nhanh hơn; cấy vi-rút cung cấp kết quả trong 3 đến 10 ngày. Các xét nghiệm nhanh có độ nhạy khoảng 70% và đặc hữu 90% trong phát hiện cúm.

Xét nghiệm huyết thanh thường quy đối với cúm yêu cầu làm theo cặp huyết thanh giai đoạn cấp tính và giai đoạn dưỡng bệnh. Xét nghiệm đó không được khuyến cáo để ra quyết định lâm sàng chính xác.

Trong thời gian bùng phát bệnh cúm, các mẫu hô hấp cần được xét nghiệm bằng cả xét nghiệm nhanh và cấy vi-rút. Cấy vi-rút là thiết yếu để xác định phân nhóm cúm A và các chủng cúm A và B gây bệnh và để giám sát các chủng mới có thể cần được đưa vào vắc-xin cúm trong năm sau. Cấy vi-rút cũng có thể giúp xác định các nguyên nhân khác gây bệnh.

Viêm phổi

Nếu một bệnh nhân có một tình trạng bệnh lý mạn tính tiềm ẩn hay rơi vào một nhóm có nguy cơ cao, cần cân nhắc khả năng bị viêm phổi do vi khuẩn hoặc vi-rút. Các bệnh nhân này sẽ có các triệu chứng dai dẳng vượt quá thời gian để khỏi bệnh cúm không biến chứng thông thường. Có thể có sốt cao, ho và khó thở. Nếu sốt và ho trở nặng với đờm mủ, khả năng cao nhất là bị viêm phổi do vi khuẩn thứ phát. Chụp X-quang ngực xác nhận có sự thâm nhiễm.

Chẩn đoán ở trẻ em

Các dấu hiệu và triệu chứng liên quan đến đường hô hấp trên và dưới là phổ biến, nhưng bệnh cúm có thể có các biểu hiện đa dạng hơn ở trẻ em, tùy thuộc vào tuổi và phơi nhiễm trước đó.

Các triệu chứng điển hình của nhiễm vi-rút cúm không biến chứng vẫn xuất hiện thường xuyên và bao gồm khởi phát đột ngột sốt, đau đầu, đau cơ, và khó chịu liên quan đến các biểu hiện của bệnh đường hô hấp, như ho, đau họng và viêm mũi.

Tuy nhiên, trẻ nhỏ thường xuyên gặp khó khăn để nói cho ta biết những triệu chứng như đau cơ và đau đầu. Chúng có thể bị sốt cao hơn so với cha mẹ, bị sốt cao co giật, và than phiền về đường tiêu hóa nhiều hơn (ví dụ: buồn nôn và nôn mửa, biếng ăn).[2][82] Các triệu chứng hô hấp có thể ít nổi bật hơn ở trẻ em ở thời điểm khởi phát bệnh so với ở trẻ vị thành niên và người lớn.[2]

Các phát hiện lâm sàng ở trẻ em có thể bao gồm sốt, thở nhanh, ban đỏ màng kết/ xuất huyết kết mạc mắt, phù nề mũi và chảy dịch, xung huyết hầu họng, và hạch cổ.[83]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi