Tiên lượng

Phần lớn những người nhiễm HIV có thể điều hòa sự tái tạo vi-rút trong nhiều năm nhờ đáp ứng miễn dịch hiệu quả; tuy nhiên, trong thời đại điều trị kháng retrovirus kết hợp hiệu lực cao (ART), khuyến cáo là áp dụng ART cho tất cả những người nhiễm HIV và không theo dõi bằng xét nghiệm máu và đánh giá lâm sàng ở những bệnh nhân không điều trị. Nếu không điều trị ART, số CD4 giảm dần theo thời gian và dần phá hủy sức đề kháng, dẫn tới từng bước khởi phát các triệu chứng thể tạng sau đó là các bệnh nhiễm trùng cơ hội và các bệnh ác tính. Bệnh nhân có thể tiến triển qua các giai đoạn liên tiếp, nhưng cũng có nhiều ca bệnh có thể chuyển sang một giai đoạn, bỏ qua một giai đoạn lâm sàng ở giữa. Những người không trở lại giai đoạn trước ngay cả khi đã điều trị.

ART làm giảm tái tạo HIV đến mức mà các xét nghiệm phòng xét nghiệm không phát hiện được. Điều này cho phép phục hồi ngay cả tình trạng suy giảm miễn dịch tiến triển về mức an toàn trong đại đa số những người được điều trị và khôi phục, duy trì sức khỏe trong một hội chứng từng tiến triển và thường gây tử vong trước đây. ART cũng có thể làm giảm lây truyền HIV và ngăn ngừa nhiễm trùng sau phơi nhiễm với máu hoặc tiếp xúc tình dục (biện pháp dự phòng sau phơi nhiễm). Miễn là ART thích hợp được kê đơn mà không có mặc định, sẽ được duy trì được những lợi ích của việc ức chế vi-rút. Tuân thủ kém là nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến sự thất bại của một phác đồ điều trị do sự phát triển tình trạng kháng thuốc, dẫn đến tái tạo đột phá và tổn hại miễn dịch dai dẳng. Trong các trường hợp này, cần phải tìm ra một phác đồ mới với các thuốc không bị đề kháng, mà sau đó nếu được dùng đúng cách sẽ giúp ức chế vi-rút một lần nữa. Khi đó, mục tiêu trọng tâm của liệu pháp điều trị HIV là ức chế tối đa sự tái tạo vi-rút đủ để ngăn ngừa sự chọn lọc các đột biến kháng thuốc của vi-rút, và tuân thủ lâu dài không gián đoạn điều trị vẫn là chìa khóa dẫn đến hiệu quả của tất cả phác đồ điều trị HIV.[87]

Hầu hết bệnh nhân áp dụng ART đạt được khả năng ức chế vi-rút trong vòng 3 đến 6 tháng. Tỷ lệ tài phát của vi-rút đã giảm trong những năm qua, và nguy cơ này giảm khi thời gian ức chế vi-rút tăng lên. Một nghiên cứu thuần tập tại Vương quốc Anh trên hơn 16.000 người dương tính với HIV đã thấy một tỷ lệ đáng kể các bệnh nhân áp dụng ART sẽ không trải qua sự phục hồi vi-rút trong suốt cuộc đời (khoảng 1% nam đồng tính ở tuổi 45 trở lên trải qua sự phục hồi vi-rút mỗi năm).[88]

Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trong 3 năm đầu tiên sau khi bắt đầu ART đang giảm. Tỷ lệ này đã thấp hơn đối với những người bắt đầu điều trị giữa những năm 2008 và 2010 so với những người bắt đầu điều trị giữa 2000 và 2003. Điều này có thể là do các yếu tố bao gồm sự sẵn có của các loại thuốc ít độc hơn, sự cải thiện tuân thủ với phác đồ điều trị bằng thuốc, và điều trị tốt hơn các bệnh đồng mắc. Tuổi thọ trung bình sau khi bắt đầu ART đã cải thiện theo thời gian.[89] Tuổi thọ trung bình đã tăng lên đến khoảng 63 đến 67 tuổi (tùy thuộc vào quốc gia và giới tính) đối với các bệnh nhân 20 tuổi đã bắt đầu điều trị từ năm 2008 đến năm 2010; tuy nhiên, giá trị này vẫn thấp hơn trong dân số nói chung.[90] Tỷ lệ tử vong do ung thư ở người nhiễm HIV cao hơn nhiều so với dân số nói chung tại Hoa Kỳ. Khoảng 10% các ca tử vong là do bệnh ung thư, thường gặp nhất là ung thư hạch bạch huyết không thuộc nhóm Hodgkin, ung thư phổi và ung thư gan.[91]

Một tỷ lệ nhỏ người có thể kiểm soát tải lượng vi-rút HIV mà không cần sự trợ giúp của ART. Nhiều người có tải lượng vi-rút thấp đến không thể phát hiện được và số lượng CD4 được bảo tồn tốt trong nhiều năm. Điều này dường như một phần là nhờ sức đề kháng mạnh mẽ đối với HIV. Tuy nhiên, ngay cả những người này cũng có khả năng hưởng lợi từ việc điều trị ART nhất quán và không gián đoạn.

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi