Các xét nghiệm thăm dò

Các xét nghiệm ban đầu cần làm

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Nên yêu cầu xét nghiệm ELISA khi xét nghiệm HIV được chỉ định. Âm tính giả có thể xảy ra trong giai đoạn cửa sổ, ngay sau khi nhiễm bệnh và trước khi kháng thể kháng HIV phát triển. Cần phải xác nhận kết quả dương tính bằng Western blot hoặc ELISA thứ hai. Giai đoạn cửa sổ có thể được giảm xuống còn 2 đến 4 tuần bằng cách sử dụng các xét nghiệm thế hệ thứ tư và những xét nghiệm đó bao gồm kháng thể IgM kháng HIV và/hoặc xét nghiệm kháng nguyên HIV (p24).[48][53]

Kết quả

dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Xét nghiệm tại chỗ. Nhân viên phải được đào tạo để thực hiện xét nghiệm nhanh. Cần yêu cầu khi chỉ định xét nghiệm HIV. Âm tính giả có thể xảy ra trong khoảng thời gian ngay sau khi nhiễm trùng và trước khi kháng thể kháng HIV phát triển. Cần xác nhận kết quả dương tính bằng xét nghiệm nhanh thứ hai.

Kết quả

dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Thường được sử dụng nhất trong giai đoạn khảo sát. Mẫu nước bọt thường được sử dụng nhiều nhất. Có sẵn cả xét nghiệm nhanh và xét nghiệm ELISA.

Kết quả

dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Đắt tiền, nên thường được sử dụng làm xét nghiệm xác nhận sau khi xét nghiệm ELISA hoặc xét nghiệm nhanh cho kết quả dương tính. Trong khoảng thời gian cửa sổ này, kết quả có thể âm tính giả hoặc không xác định.

Kết quả

dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

protein p24 có mặt trong giai đoạn tái tạo vi-rút cao, do đó có thể phát hiện được trong máu trong giai đoạn nhiễm cấp tính và một lần nữa trong các giai đoạn muộn của bệnh. Do đó, kháng nguyên này được sử dụng như một xét nghiệm bổ sung trong giai đoạn cửa sổ, và hiện là một phần trong các xét nghiệm thế hệ thứ tư mới hơn được chỉ định bởi Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ để xét nghiệm HIV định kỳ.[48]

Kết quả

dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Thông qua PCR ADN HIV, ADN sau nhiễm vi-rút định tính trong tế bào đơn nhân máu ngoại vi có thể được sử dụng để đưa ra chẩn đoán HIV, đặc biệt trong giai đoạn cửa sổ. Xét nghiệm này có chi phí cao hơn các xét nghiệm chẩn đoán dựa trên kháng thể, và chủ yếu được sử dụng để chẩn đoán HIV ở trẻ sơ sinh.

Kết quả

dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Cho biết tình trạng miễn dịch và hỗ trợ quá trình xác định giai đoạn.

Kết quả

Số lượng CD4 >500 tế bào/mL: bệnh nhân thường không có triệu chứng; số lượng CD4 <350 tế bào/mL: cho thấy tình trạng ức chế miễn dịch đáng kể; số lượng CD4 <200 tế bào/mL: xác định AIDS và khiến bệnh nhân có nguy cơ cao bị hầu hết các nhiễm trùng cơ hội

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Một xét nghiệm quan trọng để thiết lập tải lượng vi-rút ban đầu trước khi điều trị và theo dõi đáp ứng với điều trị kháng retrovirus. Ở các nước phát triển, tải lượng vi-rút ban đầu sau đó đến các phép đo tải lượng vi-rút ở các khoảng thời gian đều đặn được khuyến cáo, tùy thuộc vào đáp ứng điều trị của bệnh nhân.[33] Tuy nhiên, đây không phải là cách thực hành phổ biến ở các cơ sở thiếu nguồn lực, nơi mà xét nghiệm ARN HIV ít sẵn có hơn.

Định lượng ARN vi-rút trong huyết tương được sử dụng để xác nhận HIV cấp tính, bao gồm hội chứng nhiễm retrovirus cấp tính (tức là ở bệnh nhân có triệu chứng trước khi xét nghiệm kháng thể kháng HIV cho kết quả dương tính). Mức phát hiện được <1000 bản sao/mL có thể cho biết kết quả dương tính giả và nên lặp lại xét nghiệm trong 1 tháng, cùng với các xét nghiệm kháng thể. Tuy nhiên, nếu kết quả >1000 bản sao/mL thì chẩn đoán được xác định. Định lượng ARN vi-rút không được khuyến cáo làm xét nghiệm chẩn đoán trong các tình huống lâm sàng khác, do nó có thể cho kết quả dương tính giả.

Kết quả

bệnh nhân bị nhiễm gần đây có thể đạt mức hàng triệu bản sao/mL; trong quá trình kiểm soát lây nhiễm, tải lượng vi-rút có thể được kiểm soát ở mức hàng nghìn hoặc hàng trăm nghìn; ở các giai đoạn cuối của bệnh, tải lượng vi-rút tăng lại lên đến mức hàng triệu

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Tất cả phụ nữ có khả năng mang thai nên được thử thai để cho phép tiếp cận các chiến lược phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con. Xét nghiệm beta-hCG trong nước tiểu là đủ để phát hiện mang thai.

Kết quả

dương tính ở phụ nữ mang thai

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Nên được thực hiện lúc ban đầu, trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus hoặc nếu chức năng gan bất thường. Cũng được khuyến cáo trước khi bắt đầu liệu pháp kháng vi-rút tác động trực tiếp cho điều trị viêm gan C do nguy cơ tái hoạt động viêm gan B.[33]

Kết quả

kháng nguyên bề mặt dương tính ở bệnh nhân nhiễm viêm gan B

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Nên thực hiện xét nghiệm viêm gan C (kháng thể kháng vi-rút viêm gan C hoặc ARN) ở tất cả bệnh nhân vào lúc ban đầu và 12 tháng một lần ở các bệnh nhân có nguy cơ.[33]

Kết quả

kháng thể dương tính ở bệnh nhân nhiễm viêm gan C

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Kháng thể không xoắn khuẩn sẽ phát hiện giang mai nguyên phát và giai đoạn đầu. Hiệu giá giảm khi điều trị đầy đủ. Thiếu độ nhạy ở các giai đoạn sau của bệnh giang mai.

Kết quả

dương tính ở bệnh nhân nhiễm giang mai

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Sàng lọc tốt cho tất cả các giai đoạn sau giang mai nguyên phát. Vẫn dương tính sau khi điều trị.

Các xét nghiệm theo dõi bao gồm xét nghiệm hấp thụ kháng thể kháng khuẩn xoắn soi huỳnh quang, xét nghiệm nhanh reagin trong huyết tương hoặc xét nghiệm miễn dịch enzyme.

Kết quả

dương tính ở bệnh nhân nhiễm giang mai

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Theo dõi xét nghiệmi.

Kết quả

dương tính ở bệnh nhân nhiễm giang mai

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được chỉ định để thiết lập bằng chứng phơi nhiễm và nhiễm bệnh lao (TB). Có thể xảy ra âm tính giả ở những bệnh nhân mất ứng (HIV tiến triển).

Kết quả

phản ứng quá 5 mm ở bệnh nhân đã được sàng lọc bệnh lao có thể cần phải điều trị dự phòng bệnh lao

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus và được theo dõi trong quá trình điều trị.

Kết quả

có thể bình thường hoặc biểu hiện chứng thiếu máu hoặc tình trạng giảm tiểu cầu

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus và được theo dõi trong quá trình điều trị.

Kết quả

có thể ở mức bình thường hoặc rối loạn

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus và được theo dõi trong quá trình điều trị.

Kết quả

có thể bình thường hoặc tăng ở bệnh thận đồng mắc.

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus và được theo dõi trong quá trình điều trị.

Kết quả

có thể bình thường hoặc cho thấy protein niệu ở bệnh thận, hoặc dương tính với bạch cầu và nitrite trong trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu

Các xét nghiệm cần cân nhắc

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Nên được yêu cầu nếu có các triệu chứng hay dấu hiệu của bệnh lao (TB), bệnh viêm phổi do nhiễm P jirovecii hoặc bệnh phổi khác.

Kết quả

Bệnh viêm phổi do nhiễm Pneumocystis jirovecii: bóng từ mô kẽ đến phế nang mở rộng; bệnh lao: nhiều bất thường có thể bao gồm xơ hóa/sẹo ở đỉnh phổi, tràn dịch màng phổi, hạch bạch huyết ở rốn phổi, dạng kê, mờ đục thùy hoặc không đồng đều; viêm phổi do vi khuẩn: mờ đục thùy hoặc không đồng đều

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus và được theo dõi trong quá trình điều trị.

Kết quả

có thể bình thường; LFT (Xét nghiệm chức năng gan) bất thường tại lần khám ban đầu có thể phản ánh viêm gan B mạn tính, viêm gan C mạn tính hoặc nghiện rượu

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus (ART) và được theo dõi trong quá trình điều trị.

Kết quả

mức cholesterol có thể thấp khi chẩn đoán; ART có thể liên quan đến các mức tăng

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus (ART) và được theo dõi trong quá trình điều trị.

Kết quả

có thể tăng ở bệnh nhân đang điều trị ART

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Cần thực hiện cho tất cả các bệnh nhân. Nếu kết quả âm tính, bệnh nhân cần được tiêm vắc-xin ngừa viêm gan A.

Kết quả

có thể âm tính hoặc dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Cần thực hiện vào lúc ban đầu cho tất cả bệnh nhân nhiễm HIV, đặc biệt là những bệnh nhân có số lượng CD4 <200 tế bào/microlit.

Nếu kết quả dương tính và số lượng CD4 <50 tế bào/microlit, nên bắt đầu điều trị dự phòng.

Kết quả

có thể âm tính hoặc dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Thực hiện vào lúc ban đầu và sau mỗi 3, 6 hoặc 12 tháng tùy theo nguy cơ từ hoạt động tình dục.

Nên lấy mẫu phết nước tiểu/niệu đạo, phết trực tràng và phết dịch họng để nuôi cấy cho xét nghiệm khuếch đại nucleic. Nếu kết quả xét nghiệm dương tính, cần điều trị cho bệnh nhân bằng kháng sinh thích hợp.

Kết quả

có thể âm tính hoặc dương tính

Xét nghiệm
Kết quả
Xét nghiệm

Cần được yêu cầu trước khi bắt đầu điều trị kháng retrovirus để hỗ trợ lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp nhất. Nếu kết quả dương tính, cần tránh dùng abacavir.

Kết quả

có thể âm tính hoặc dương tính

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi