Tiền sử và khám

Các yếu tố chẩn đoán chính

Các yếu tố nguy cơ chính gây nhiễm HIV bao gồm truyền máu nhiễm HIV, tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục đồng giới và khác giới không bảo vệ và vết thương do kim đâm qua da.

Sốt và đổ mồ hôi đêm không rõ nguyên nhân trong hơn 1 tháng (không đáp ứng với thuốc kháng sinh) gồm bệnh giai đoạn 3 theo phân loại của WHO. Các triệu chứng này có thể cho biết bệnh lao, cần được loại trừ. Cần loại trừ bệnh sốt rét ở các vùng lưu hành dịch.[50]

Sút dưới 10% cân nặng không chủ ý không rõ nguyên nhân là triệu chứng giai đoạn 2 theo phân loại của WHO. Nếu giảm quá 10% cân nặng hoặc BMI giảm đến 18,5, điều này cho biết tình trạng suy giảm miễn dịch nặng hơn (bệnh giai đoạn 3 theo phân loại của WHO).[50] Giảm cân có thể do suy dinh dưỡng, nhiễm bệnh lao và hội chứng suy mòn do HIV.[50]

Phát ban có thể xuất hiện ở tất cả các giai đoạn bệnh HIV, do đó cần đặc biệt chú ý đến da. Phát ban là dấu hiệu thường gặp nhất ở bệnh giai đoạn 2 theo phân loại của WHO: bao gồm herpes zoster (bệnh zona), viêm da tiết bã, phát ban sẩn ngứa, nấm da và móng tay (nấm da vùng thân hoặc nấm móng tay).[50]

Phải luôn khám kỹ miệng. Cả bệnh nấm và bạch sản miệng dạng lông đều cho biết bệnh ở giai đoạn 3 theo phân loại của WHO.

Loét miệng áp-tơ đau tái phát, cũng như viêm khóe môi (nứt khóe miệng do nhiễm nấm), cho biết bệnh ở giai đoạn 2 theo phân loại của WHO.[50]com.bmj.content.model.Caption@59eab115[Figure caption and citation for the preceding image starts]: Nhiễm nấm Candida miệng ở bệnh nhân HIVThư viện hình ảnh y tế công cộng (PHIL) [Citation ends].

Tiêu chảy không rõ nguyên nhân trong thời gian hơn 1 tháng (không chẩn đoán được mầm bệnh) cho biết bệnh ở giai đoạn 3 theo phân loại của WHO.[50]

Giảm cân không rõ nguyên nhân (>10% cân nặng) hoặc suy mòn kèm sốt không rõ nguyên nhân (kéo dài >1 tháng), hoặc tiêu chảy mạn tính không rõ nguyên nhân (>1 tháng) gồm hội chứng suy mòn do HIV, một bệnh liên quan đến AIDS (giai đoạn 4 theo phân loại của WHO).[50]

Trầm cảm và lo lắng là tình trạng thường gặp ở những người dương tính với HIV. Có thể bị thay đổi trạng thái tinh thần hoặc nhận thức do bệnh cơ quan ở HIV giai đoạn cuối (giai đoạn 4 theo phân loại của WHO). Cần loại trừ bệnh toxoplasma và cryptococcus. Trong trường hợp không có bệnh lý khác để giải thích cho tình trạng giảm nhận thức hoặc chức năng vận động, có thể chẩn đoán bệnh não do HIV.[50]

Cần tìm ra các lần nhập viện gần đây để điều trị bệnh truyền nhiễm, bao gồm nhiễm khuẩn (như viêm phổi, viêm màng não, nhiễm trùng xương hoặc khớp, bệnh viêm vùng chậu nặng, nhiễm khuẩn huyết), bệnh lao (TB) hoặc nhiễm nấm hay vi-rút trong bệnh sử.

Nhiễm khuẩn và bệnh lao phổi là các bệnh xuất hiện ở giai đoạn 3 theo phân loại của WHO. Viêm phổi do vi khuẩn tái phát cho biết bệnh giai đoạn 4 theo phân loại của WHO, cũng như chẩn đoán các bệnh viêm phổi khác như viêm phổi do nhiễm Pneumocystis jirovecii và bệnh lao ngoài phổi.

Nhiễm nấm như nhiễm nấm candida thực quản và viêm màng não do cryptococcus là các bệnh ở giai đoạn 4 theo phân loại của WHO, cũng như nhiễm vi-rút, chẳng hạn như viêm võng mạc do cytomegalovirus.[2][50]

Nguy cơ mắc bệnh lao tăng lên khi sự ức chế miễn dịch xấu đi. Nếu bệnh nhân HIV có các triệu chứng của bệnh lao (như ho, giảm cân, sốt và đổ mồ hôi đêm) và/hoặc tiền sử tiếp xúc với bệnh nhân lao, cần loại trừ bệnh lao bằng cách gửi 2 mẫu đờm để phết và soi kính hiển vi trực tiếp và/hoặc nuôi cấy và khám bằng XQ ngực thẳng (để phát hiện thâm nhiễm, vách hóa hoặc tràn dịch). Nếu bị ức chế miễn dịch nặng, có thể bị bệnh lao mặc dù mẫu đờm không dương tính (mẫu phết âm tính với lao).[2][50]

Bệnh nhân cần được đánh giá để phát hiện các bệnh đồng mắc khác có thể ảnh hưởng đến cả tiến triển bệnh và quyết định điều trị. Ví dụ: bệnh nhân có bệnh thận sẽ cần điều chỉnh liều kháng retrovirus. Bệnh nhân mắc bệnh lao cần bắt đầu điều trị bệnh lao trong thời gian sớm nhất có thể, và những bệnh nhân có các bệnh nhiễm trùng cơ hội (OI) khác cần tiếp nhận điều trị OI song song với điều trị kháng retrovirus (ART). Thời gian ART trong trường hợp bệnh nhân mắc các bệnh OI phụ thuộc vào OI cụ thể. Bệnh nhân có các bệnh mạn tính khác như đái tháo đường hoặc bệnh tim cần được điều trị hội chẩn với các bác sĩ chuyên khoa khác. Cần cân nhắc sự tương tác thuốc với ART và tất cả các thuốc được cho dùng.

HIV chủ yếu lây lan qua đường tình dục ở tất cả các khu vực trên thế giới. Do đó, nên tiến hành đánh giá liên tục về hoạt động tình dục và nguy cơ mắc STD cho tất cả bệnh nhân bị HIV.

Hạch to không đau, ở 2 hoặc nhiều vị trí không liền kề, có kích thước >1 cm trong quá 3 tháng.[50]

Bướu thịt Kaposi có thể biểu hiện dưới dạng một mảng hồng hoặc hơi tím trên da hoặc trong miệng. Đây là một tình trạng bệnh lý xác định AIDS.[50]

Nhiễm vi-rút herpes mạn tính, tức là loét sinh dục hoặc hậu môn đau và tiến triển trong >1 tháng, là một bệnh xác định AIDS.[50] Các STD khác liên quan đến nhiễm HIV bao gồm bệnh giang mai, nấm chlamydia và bệnh lậu.

Xuất hiện ở bệnh giai đoạn 3 theo phân loại của WHO.[50] Tỷ lệ Candida cư trú trong âm đạo cao hơn ở phụ nữ nhiễm HIV.[55]

Xuất hiện ở bệnh giai đoạn 2 theo phân loại của WHO.[50] Chỉ bệnh xác định AIDS nếu bị nhiều bệnh da liễu cùng lúc.

Đau đầu có thể cho biết bệnh ở hệ thần kinh trung ương. Đau đầu với các dấu hiệu và triệu chứng hê thần kinh trung ương khu trú có thể cho biết nhiễm toxoplasma (giai đoạn 4 theo phân loại của WHO). Khi kèm theo các triệu chứng cấp tính của hội chứng màng não, đau đầu có thể cho biết viêm màng não do vi khuẩn (giai đoạn 3 theo phân loại của WHO). Những bệnh nhân có triệu chứng mạn tính nhẹ hơn của hội chứng màng não có thể cho biết viêm màng não do cryptococcus (giai đoạn 4 theo phân loại của WHO).[50] Cũng có thể liên quan đến u lympho.

Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp viêm màng não liên quan đến HIV sẽ đi kèm với đau đầu không bị cứng gáy và có hoặc không bị sốt.

Vệ sinh miệng kém, răng lung lay, chảy máu nướu răng và hơi thở có mùi hôi cho thấy tình trạng viêm nướu hoặc viêm nha chu, một tình trạng bệnh lý ở giai đoạn 3 theo phân loại của WHO.[50]

Trường hợp cấp cứu y khoa và cần phải giới thiệu ngay để can thiệp bảo vệ thị lực nếu bị viêm võng mạc do cytomegalovirus.

Đây là các đặc điểm lâm sàng của viêm phổi do nhiễm Pneumocystis jirovecii. Hiếm khi xảy ra ở bệnh nhân có số lượng CD4 cao hơn 200 tế bào/microlit. Biểu hiện khó thở, có ít dấu hiệu lâm sàng. Sau khi điều trị sẽ cần biện pháp dự phòng thứ cấp liên tục, hoặc tất cả bệnh nhân có số lượng CD4 dưới 200 tế bào/microlit hoặc bệnh ở giai đoạn 3 hoặc 4 cần được nhận biện pháp dự phòng bằng trimethoprim/sulfamethoxazole (co-trimoxazole) hoặc dapsone.

Các yếu tố chẩn đoán khác

Dùng chung kim tiêm chích ma túy với người nhiễm bệnh là một yếu tố nguy cơ gây nhiễm HIV và là một trở ngại cho việc tuân thủ điều trị HIV.

Có thể liên quan đến HIV hoặc một số loại thuốc hoặc chất độc khác. Điều quan trọng là cần tìm ra căn nguyên gây bệnh, do một số phác đồ điều trị kháng retrovirus cũng gây ra bệnh lý thần kinh ngoại biên.

Xuất hiện ở bệnh giai đoạn 4 theo phân loại của WHO.[50]

Có thể cho biết hội chứng HIV cấp tính, nhiễm trùng cơ hội hoặc bệnh ác tính như u lympho.

Nôn, cứng gáy và sợ ánh sáng có thể cho biết viêm màng não do vi khuẩn hoặc vi-rút; tuy nhiên, ít có khả năng phát hiện thấy các dấu hiệu màng não (hội chứng màng não) trong trường hợp viêm màng não do nấm. Hầu hết các trường hợp viêm màng não liên quan đến HIV sẽ đi kèm với đau đầu không bị cứng gáy và có hoặc không bị sốt.

Các yếu tố nguy cơ

67 ca nhiễm/10.000 ca phơi nhiễm với nguồn nhiễm bệnh có tải lượng vi-rút phát hiện được.[18]

50 ca nhiễm/10.000 ca phơi nhiễm với nguồn nhiễm bệnh có tải lượng vi-rút phát hiện được.[19][20]

10 ca nhiễm/10.000 ca phơi nhiễm với nguồn nhiễm bệnh có tải lượng vi-rút phát hiện được.[19][20]

30 ca nhiễm/10.000 ca phơi nhiễm với nguồn nhiễm bệnh có tải lượng vi-rút phát hiện được.[21]

Mức RNA HIV khi sinh liên quan độc lập với nguy cơ lây truyền.[22]

Bằng chứng từ các nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa tình trạng mắc phải HIV và thuốc tiêm tránh thai chỉ có progestin, bao gồm depot medroxyprogesterone, gợi ý khả năng tăng nguy cơ mắc phải HIV ở các bệnh nhân sử dụng các loại thuốc tránh thai này, có thể do các thay đổi qua trung gian hoóc-môn ở biểu mô âm đạo. Tuy nhiên, các phát hiện không thống nhất giữa các nghiên cứu.[23] 

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo rằng có thể sử dụng không hạn chế các bộ phận cấy ghép, thuốc chỉ chứa progestin và các thuốc tránh thai bằng nội tiết tố kết hợp ở phụ nữ có nguy cơ cao nhiễm HIV.[24] Cả CDC và Tổ chức Y tế Thế giới đều cho rằng lợi ích depot medroxyprogesterone mang lại lớn hơn nguy cơ trên lý thuyết hoặc nguy cơ có thể có, và rằng phụ nữ có nguy cơ cao nhiễm HIV không nên bị từ chối phương pháp điều trị này.[24][25]

Bằng chứng gợi ý rằng nhiễm HSV-2 có thể làm tăng nguy cơ mắc phải HIV.[26]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi