Điều trị trong giai đoạn đầu

Các thuốc kháng retrovirus mới

Hiện có một vài loại thuốc kháng retrovirus mới để điều trị nhiễm HIV; tuy nhiên, vai trò chính xác của chúng trong điều trị vẫn đang được nghiên cứu. PRO 140 (dạng nhân bản của kháng thể PA14) là một kháng thể đơn dòng nhắm mục tiêu kháng lại thụ thể CCR5 trên các tế bào lympho T đã cho thấy hoạt tính chống vi rút đáng kể trong 3 thử nghiệm nhỏ nhưng vẫn được xem là một loại thuốc nghiên cứu.[80] Các loại thuốc được phê duyệt bởi Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) bao gồm maraviroc (một thuốc đối kháng thụ thể CCR5) và enfuvirtide (một thuốc ức chế sự hợp nhất, liên kết với các thụ thể gp41 hoặc chemokine và ức chế sự xâm nhập của vi-rút vào tế bào miễn dịch); tuy nhiên, vai trò chính xác của chúng trong điều trị vẫn chưa được xác định. Ibalizumab, một thuốc ức chế sự hợp nhất kháng thể đơn dòng, đã được FDA phê duyệt dùng cho người lớn là những người có nhiều kinh nghiệm điều trị và những người không thể điều trị thành công bằng các liệu pháp hiện có (ví dụ, đa thuốc kháng HIV). Loại thuốc này được tiêm tĩnh mạch mỗi 14 ngày. Các tác dụng bất lợi thường gặp bao gồm tiêu chảy, chóng mặt, buồn nôn và phát ban. Các tác dụng bất lợi nặng bao gồm phát ban và hội chứng phục hồi miễn dịch. Trong một thử nghiệm giai đoạn III, 43% bệnh nhân đạt được khả năng ức chế ARN HIV sau 24 tuần điều trị (kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác).[81] Doravirine, một thuốc ức chế men phiên mã ngược không phải nucleotide mới, dùng mỗi ngày một lần hiện đang được thử nghiệm.[82] Các liệu pháp kháng vi-rút hiện đang được nghiên cứu bao gồm các thuốc ức chế sự gắn kết, thuốc ức chế sự trưởng thành và các thuốc tiêm tác dụng kéo dài của liệu pháp kháng retrovirus.[83][84][85] Các liệu pháp kháng retrovirus dạng tiêm, tác dụng kéo dài (ví dụ: cabotegravir, rilpivirine) được tiêm hàng tháng hoặc hai tháng một lần đã đến các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III vừa để phòng ngừa vừa để điều trị nhiễm HIV, và sẽ có khả năng được đưa vào sử dụng lâm sàng cho những nhóm bệnh nhân cụ thể trong vòng vài năm sắp tới. Một liệu pháp thuốc tiêm gồm cabotegravir cộng với rilpivirine được dùng mỗi 4 tuần hoặc 8 tuần đã được thấy là hiệu quả tương đương với cabotegravir cộng với abacavir/lamivudine dạng uống trong việc duy trì ức chế vi-rút tới 96 tuần, và đã được chấp nhận và dung nạp tốt.[86]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi