Các biến chứng

Các biến chứng table
Biến chứngThời gianKhả năng xảy ra

chuyển đảo huyết thanh cấp tính

ngắn hạntrung bình

Nhiễm HIV cấp tính sẽ xảy ra ở 50% những người bị nhiễm bệnh, với tình trạng ốm do vi-rút giống với bệnh tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm trùng, đặc trưng bởi: sốt, khó chịu, đau cơ, viêm họng, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, hạch to toàn thân, to gan lách. Phát ban và loét áp-tơ cũng gợi ý chẩn đoán.

Có thể xảy ra tổn thương hệ thần kinh (ví dụ: bệnh viêm màng não, liệt mặt và hội chứng Guillain-Barre).

Tải lượng vi-rút cực kì cao do vi-rút sao chép trước khi đáp ứng miễn dịch diễn ra. Điều trị phần lớn mang tính hỗ trợ. ART kết hợp có hiệu lực với các phác đồ tương tự được sử dụng để điều trị nhiễm trùng mạn tính đã biết nên được bắt đầu càng sớm càng tốt trong bối cảnh chuyển đảo huyết thanh cấp tính để làm giảm triệu chứng, giảm nguy cơ lây truyền, bảo tồn tình trạng miễn dịch, và có khả năng giảm thiểu kích thước của mô tế bào nhiễm HIV tiềm ẩn.

hội chứng cấp tính nặng

ngắn hạnthấp

Biểu hiện với các triệu chứng trong hơn 2 tuần, tải lượng vi-rút cao và suy giảm miễn dịch có thể gây ra các bệnh nhiễm trùng cơ hội (ví dụ: bệnh nấm thực quản hoặc nhiễm Pneumocystis jirovecii), và tiên lượng chung kém hơn.

Có khả năng tiến triển nhanh chóng và sẽ cần phải giám sát theo dõi cẩn thận tình trạng suy giảm miễn dịch. Nên bắt đầu ART càng sớm càng tốt.

người bệnh tiến triển nhanh

ngắn hạnthấp

Một tỷ lệ nhỏ người phát triển AIDS trong vòng 1 đến 2 năm. Điều này liên quan tới các mức tái tạo vi-rút cao và sự suy giảm mạnh mẽ số lượng CD4, có thể do sự suy giảm trong đáp ứng ban đầu của người mang bệnh đối với tình trạng nhiễm HIV.

Tỷ lệ mắc mới có thể sẽ giảm nếu khuyến cáo bắt đầu ART ở tất cả bệnh nhân nhiễm HIV.

AIDS

dài hạncao

AIDS xảy ra do nhiễm HIV, thường sau khoảng 6 đến 9 năm từ khi nhiễm vi-rút.

Có thể biểu hiện với một bệnh xác định AIDS như candida thực quản, bệnh lao ngoài phổi, viêm màng não do cryptococus, hoặc viêm phổi do P jirovecii.

Số lượng CD4 và tải lượng vi-rút cần được theo dõi chặt chẽ và ART được bắt đầu với thời gian tùy thuộc vào sự hiện diện của các bệnh nhiễm trùng cơ hội cụ thể.

Giảm testosteron liên quan đến HIV

dài hạntrung bình

Có tới 70% nam giới nhiễm HIV bị thiếu hụt testosterone và vấn đề này vẫn tồn tại cho dù điều trị ART thành công. Suy giảm chức năng sinh dục cũng có thể phát sinh ở nhóm đối tượng HIV tuổi cao. Liệu pháp thay thế testosterone (TRT) thường được sử dụng trong trường hợp nhiễm HIV và thường được áp dụng mà không có đánh giá hoặc theo dõi đúng cách. Do các nghiên cứu gợi ý TRT có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, nghẽn mạch và tử vong, thì cần cẩn trọng khi bắt đầu áp dụng TRT trong thời gian áp dụng ART.[111]

các biện pháp kiểm soát lâu dài

dài hạnthấp

Một tỷ lệ nhỏ người có thể kiểm soát tải lượng vi-rút HIV mà không cần sự trợ giúp của ART. Nhiều người có tải lượng vi-rút thấp đến không thể phát hiện được và số lượng CD4 được bảo tồn tốt trong nhiều năm. Điều này dường như một phần là nhờ sức đề kháng mạnh mẽ đối với HIV. Tuy nhiên, ngay cả những người này cũng có khả năng hưởng lợi từ việc điều trị ART nhất quán và không gián đoạn.[92]

Bệnh tim mạch liên quan đến điều trị kháng retrovirus (ART) hoặc HIV

dài hạnthấp

Người nhiễm HIV bị tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Tỷ lệ mắc mới tích lũy ước tính là 20,5% ở nam giới và 13,8% ở nữ giới khi đến tuổi 60, so với 12,8% (nam) và 9,4% (nữ) ở dân số nói chung tại Hoa Kỳ.[94]

Nhiễm HIV cũng liên quan đến hiện tượng tăng nguy cơ bị bệnh động mạch ngoại biên; tuy nhiên, nguy cơ này có vẻ cao nhất ở bệnh nhân có số lượng CD4 <200 tế bào/microlit duy trì liên tục.[95]

Có thể liên quan tới bản thân HIV và/hoặc tới ART. Nguy cơ gia tăng đã được báo cáo với việc sử dụng tích lũy các thuốc ức chế protease.[96] Bệnh nhân đồng nhiễm HIV và viêm gan C sẽ tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch so với bệnh nhân chỉ bị nhiễm HIV.[97]

Bệnh cơ tim, viêm cơ, và suy tim xung huyết đều là các biến chứng tim mạch thường gặp của nhiễm HIV không được điều trị. Cũng có hiện tượng tăng nguy cơ bị bệnh tim thiếu máu cục bộ do tình trạng viêm mạn tính liên quan tới nhiễm HIV trong số những bệnh nhân áp dụng ART ức chế dài hạn. Một số thuốc nhất định trong phác đồ ART có thể làm trầm trọng thêm nguy cơ này bằng cách thay đổi chuyển hóa lipid và tăng lipid máu.

Bệnh thận liên quan đến HIV hoặc ART

dài hạnthấp

Có thể bắt gặp bệnh thận cấp tính và mạn tính, bao gồm tình trạng trở nặng bệnh thận hiện mắc (bệnh tiểu đường, tăng huyết áp), cũng như bệnh liên quan đến HIV. Nguyên nhân thường gặp nhất của suy thận mạn tính liên quan đến HIV (GFR <60ml/phút) là bệnh thận liên quan đến HIV. Thường xảy ra nhất ở người có số lượng CD4 thấp hơn; ảnh hưởng đến người bệnh cao tuổi và người gốc Phi.

Bệnh thận cũng có thể liên quan đến một số loại thuốc cụ thể trong phác đồ ART. Nhiễm độc thận có thể được giảm thiểu bằng tenofovir alafenamide hoặc abacavir thay cho tenoforvir disoproxil fumarate. Nói chung, nguy cơ bệnh thận giai đoạn cuối cao gấp khoảng 3 lần ở những người bị nhiễm HIV, so với những người không nhiễm.[98]

Bệnh về xương liên quan đến HIV hoặc ART

dài hạnthấp

Nguy cơ bị loãng xương và chứng thiếu xương tăng lên ở bệnh nhân dương tính với HIV, và mức vitamin D thường thấp. Bệnh về xương có thể liên quan đến một số thuốc cụ thể trong phác đồ ART như tenofovir disoproxil fumarate. Có thể giảm thiểu độc tính này bằng cách sử dụng tenofovir alafenamide hoặc abacavir thay cho tenoforvir disoproxil fumarate. Nói chung, những người nhiễm HIV có nguy cơ loãng xương cao gấp khoảng 4 lần so với những người không nhiễm HIV.[99]

Ung thư liên quan đến HIV

dài hạnthấp

Các bệnh ung thư xác định AIDS (u sarcom Kaposi, ung thư bạch huyết không thuộc nhóm Hodgkin, và ung thư cổ tử cung) đều giảm trong thời gian áp dụng ART, nhưng tiếp tục xảy ra ở tỷ lệ cao hơn nhiều lần so với dân số nói chung. Những người nhiễm HIV đang gặp phải gánh nặng phát sinh từ các bệnh ung thư không xác định AIDS trong thời gian áp dụng ART. Những bệnh này bao gồm ung thư hậu môn, u lympho Hodgkin, các bệnh ung thư hầu, họng, ung thư phổi, ung thư da và ung thư gan. Bệnh ung thư là một nguyên nhân gây tử vong đã tăng từ 11% lên 22% trong một cuộc khảo sát bệnh nhân người Pháp nhiễm HIV. Sàng lọc ung thư phù hợp theo độ tuổi có vai trò quan trọng đối với nhóm đối tượng này.[100][101][102][103][104]

Ức chế HIV lâu dài bằng ART liên quan đến nguy cơ mắc ung thư thấp hơn so với nhiễm vi-rút huyết không được kiểm soát; tuy nhiên, các bệnh nhân ức chế HIV lâu dài vẫn có nguy cơ cao hơn mắc một số bệnh ung thư nhất định, đặc biệt là những người đồng nhiễm vi-rút, khi so sánh với dân số nói chung.[105]

Bệnh gan liên quan đến HIV

dài hạnthấp

Những bệnh nhân nhiễm HIV có tỷ lệ cao bị bệnh gan giai đoạn cuối chủ yếu là do đồng nhiễm viêm gan vi-rút. Có ít hoặc không có sự thay đổi về tỷ lệ bệnh gan giai đoạn cuối trong thời gian áp dụng ART, nhưng tỷ lệ này được dự kiến sẽ thay đổi với các thuốc kháng vi-rút kháng lại vi-rút viêm gan C. Sàng lọc ung thư gan thích hợp cho những người đồng nhiễm viêm gan vi-rút có vai trò quan trọng ở nhóm đối tượng này.[106]

Rối loạn chức năng thần kinh nhận thức liên quan đến HIV

dài hạnthấp

Rối loạn này có đặc trưng là khó khăn trong việc nhận thức và ghi nhớ, và tỷ lệ lưu hành cao ở mức 15% đến 20% những người nhiễm HIV đang áp dụng ART.[107]

Bệnh nhân bị nhiễm HIV có tỷ lệ trầm cảm cao hơn đáng kể so với dân số nói chung. Liệu pháp chống trầm cảm có thể cải thiện các triệu chứng so với giả dược; tuy nhiên, chất lượng của bằng chứng còn thấp ở người nhiễm HIV.[108]

Đái tháo đường liên quan đến HIV

dài hạnthấp

Tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở người nhiễm HIV dao động từ 2% đến 14% tùy vào loại hình nghiên cứu, việc xác định bệnh đái tháo đường, và các yếu tố nguy cơ. Có bằng chứng mâu thuẫn về việc nhiễm HIV là một yếu tố nguy cơ độc lập với đái tháo đường. Sàng lọc đái tháo đường phù hợp theo độ tuổi có vai trò quan trọng đối với nhóm đối tượng này.[109]

Nghiên cứu đang được tiến hành để tìm ra liệu có hay không mối liên hệ giữa bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân nhiễm HIV và ART.[110]

Bệnh phổi liên quan đến HIV

dài hạnthấp

COPD là bệnh phổi mạn tính thường gặp nhất được chẩn đoán ở những người có HIV với tỷ lệ bệnh khoảng 20% ở các đoàn hệ khác nhau. Chưa rõ liệu nhiễm HIV có là một yếu tố nguy cơ độc lập không liên quan đến hút thuốc hoặc nhiễm khuẩn phổi.[112]

suy giảm thính lực

dài hạnthấp

Bằng chứng hiện tại gợi ý một tỷ lệ cao bị suy giảm thính lực ở những người sống với HIV nếu so với những người không có HIV; tuy nhiên, chưa hiểu rõ căn nguyên gây bệnh.[113]

ức chế miễn dịch trước AIDS

biến động/có thể thay đổicao

Có thể biểu hiện với các dấu hiệu của các triệu chứng giai đoạn 2 hoặc 3 theo Tổ chức Y tế Thế giới bao gồm bệnh zona, bệnh nấm Candina miệng, sụt cân, hoặc bệnh lao phổi.

Nên đánh giá số lượng CD4 và tải lượng vi-rút.

Tỷ lệ mắc mới có thể sẽ giảm nếu khuyến cáo bắt đầu ART ở tất cả bệnh nhân nhiễm HIV.

Nhiễm trùng cơ hội do HIV

biến động/có thể thay đổicao

Các bệnh nhiễm trùng cơ hội và bệnh đồng mắc thường gặp ở những bệnh nhân nhiễm HIV. Cần áp dụng biện pháp dự phòng ban đầu ở bệnh nhân được chọn. Nếu xuất hiện một bệnh nhiễm trùng cơ hội, khuyến cáo nhanh chóng chẩn đoán để có thể điều trị càng nhanh càng tốt.

Trong giai đoạn đầu của bệnh, số lượng CD4 có thể suy giảm thoáng qua tại thời điểm đồng mắc nhiễm trùng nếu bệnh nhân được theo dõi thường xuyên. Bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển trở nên suy yếu dễ dàng hơn, và cần chẩn đoán và điều trị các bệnh nhiễm trùng càng sớm càng tốt.

Với một số bệnh nhiễm trùng cơ hội, đảm bảo điều trị theo kinh nghiệm và phỏng đoán tốt nhất, đặc biệt ở những bệnh nhân có hệ miễn dịch bị tổn thương. Một thuốc kháng sinh phổ rộng nhiều khả năng được kê đơn nhất nếu nghi bị nhiễm khuẩn cấp tính.

Ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển nặng, việc theo dõi bệnh nhân để biết hội chứng viêm phục hồi miễn dịch (IRIS) trong 3 đến 6 tháng đầu sau khi bắt đầu ART có vai trò rất quan trọng, và sẽ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong nếu sớm điều trị. IRIS thường gặp hơn ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển rất nặng và gánh nặng từ NTCH lớn.[93]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi