Procedural videos

Hoạt ảnh minh họa cách đặt vein tĩnh mạch ngoại biên

Trang thiết bị cần thiết

  • Găng tay (và cân nhắc dùng áo choàng nhựa và kính bảo hộ ở bệnh nhân có nguy cơ cao)

  • Khăn sát trùng (thường là chlorhexidine thay vì khăn tẩm cồn tiêu chuẩn)

  • Ga rô (lý tưởng là dùng một lần)

  • Cannula tĩnh mạch cỡ phù hợp

  • Bộ băng cannula (thường là băng trong suốt)

  • Bơm tiêm và natri clorid 0,9% để đuổi nòng

  • Bông gòn hoặc bông gạc.

Chống chỉ định

Không đặt cannula tĩnh mạch khi không cần ngay lập tức hoặc dự đoán cần tiếp cận tĩnh mạch trung tâm. Không phải bệnh nhân nào tại bệnh viện cũng cần đặt cannula mặc dù khi nhập viện do bệnh cấp tính đòi hỏi thiết lập đường vào tĩnh mạch sớm trong trường hợp cấp cứu.

Các vị trí cần tránh khi thực hiện đặt cannula bao gồm:

  • Cánh tay nơi có cầu tay (ví dụ ở bệnh nhân lọc máu)

  • Các khu vực nơi việc dẫn lưu bạch huyết bị ảnh hưởng (ví dụ như cánh tay sau khi phẫu thuật nách)

  • Các vùng bị viêm mô tế bào hoặc bỏng

  • Tĩnh mạch nhỏ ở chi dưới và bàn chân, đặc biệt là ở bệnh nhân tiểu đường

  • Các vùng bị bệnh lý mạch máu ngoại biên, giãn tĩnh mạch, tăng áp lực tĩnh mạch hoặc phù nề

  • Bề mặt các khớp.

Chỉ định

Cannula tĩnh mạch được sử dụng để tiêm bolus hay truyền dịch và thuốc trong thời gian dài. Trong đánh giá ban đầu ở bệnh nhân nguy kịch, đặt cannula tĩnh mạch là một phần quan trọng trong lưu đồ ABCDE. Sau khi kiểm tra đường thở (A) và hô hấp (B), cần hoàn tất kiểm tra tuần hoàn (C) với việc thiết lập ít nhất một đường truyền tĩnh mạch. Điều này thường yêu cầu hai cannula cỡ lớn (cỡ 14 đến 16), tại mỗi bên hố khuỷu.

Các biến chứng

  • Bầm tím/khối máu tụ: tương đối thường gặp, đặc biệt là sau khi đặt cannula thất bại hoặc đặt quá thô bạo.

  • Nhiễm trùng vị trí đặt: viêm mô tế bào có thể xảy ra quanh vị trí đặt, có thể tiến triển thành nhiễm trùng huyết trong một số trường hợp

  • Lạc chỗ (mô hóa): cannula có thể bị lệch khỏi tĩnh mạch; nếu vậy, hãy rút ra và đặt cannula mới

  • Thoát mạch: nếu không đặt đúng vị trí, dịch hay thuốc tiêm có thể tích tụ dưới da, có thể gây kích ứng cho bệnh nhân và hoại tử mô trong một số trường hợp

  • Viêm tĩnh mạch huyết khối: kích thích và đông máu tĩnh mạch tại vị trí đặt cannula đòi hỏi phải rút cannula

  • Tắc: các cục máu đông hoặc ứ thuốc tiêm truyền có thể gây tắc cannula. Trong một số trường hợp, điều này có thể được giải quyết bằng cách thông bằng nước muối sinh lý nhưng có thể cần phải rút cannula.

Chăm sóc điều trị sau khi ra viện

Ép lên vị trí đặt cannula thất bại sẽ giảm bầm tím và chảy máu. Sau khi đặt cannula thành công, hãy nối cannula với bộ dây truyền hoặc dịch truyền tĩnh mạch nếu cần.

Viêm mô tế bào có thể xảy ra quanh vị trí đặt. Kiểm tra vị trí đặt cannula tĩnh mạch thường xuyên để xem có dấu hiệu nhiễm trùng như tấy đỏ hoặc chảy dịch hay không. Hầu hết các gói cố định cannula sử dụng vật liệu trong suốt để hỗ trợ điều này.

Các quy định kiểm soát nhiễm trùng trước đây gợi ý không để cannula ngoại biên quá 72 giờ. Tuy nhiên, một đánh giá Cochrane năm 2015 cho thấy không có bằng chứng về việc thay cannula mỗi 72 đến 96 giờ tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào về tỷ lệ nhiễm trùng máu hoặc viêm tĩnh mạch liên quan đến catheter so với việc rút catheter khi có chỉ định lâm sàng (ví dụ như tình trạng viêm, thâm nhiễm hoặc tắc).[98]

Nếu xảy ra nhiễm khuẩn ở vị trí ống thông, thấm dịch ở vị trí này và cấy máu trước khi dùng kháng sinh ngay lập tức.