Tiền sử và khám

Các yếu tố chẩn đoán chính

Tăng mức độ khó thở liên tục hàng ngày thường xuất hiện ở những bệnh nhân bị kịch phát cấp.[11]

Thường phát hiện thay đổi về đặc điểm và tần suất ho.[11] Thay đổi này có thể vượt quá mức thay đổi hàng ngày ở tình trạng ho điển hình của bệnh nhân.[1]

Tất cả bệnh nhân mắc COPD bị tắc nghẽn luồng khí thở ra và có thể dẫn đến thở khò khè. Bệnh nhân bị kịch phát cấp thường có thể được phát hiện thấy có tình trạng thở khò khè nặng hơn và pha thở ra kéo dài trong khi khám. Tuy nhiên, tình trạng thở khò khè không xuất hiện ở nhiều bệnh nhân.

Thường quan sát thấy thay đổi về lượng hoặc đặc điểm (độ dày, màu sắc) hoặc cả hai. Đờm mủ xuất hiện cho thấy tình trạng nhạy và đặc trưng với lượng vi khuẩn lớn và có thể giúp xác định các phân nhóm bệnh nhân có thể có lợi nhất từ liệu pháp điều trị bằng kháng sinh.[177][178]

Tình trạng thở nhanh thường xuất hiện và có thể nghiêm trọng. Điều quan trọng là phải quan sát xem bệnh nhân có dấu hiệu suy hô hấp không.

Dấu hiệu có thể cho thấy suy hô hấp sắp xảy ra.

Các yếu tố chẩn đoán khác

Cần xem xét tiền sử COPD, cũng như các tình trạng khác có thể ảnh hưởng đến khả năng xảy ra các vấn đề cấp tính khác được xem xét trong chẩn đoán phân biệt. Những bệnh nhân có tiền sử bị hai đợt kịch phát trở lên trong năm trước hoặc có tiền sử nhập viện do đợt kịch phát trong năm trước đó bị coi là có nguy cơ cao xảy ra đợt kịch phát tiếp theo.[1]

Điều quan trọng là xác định xem bệnh nhân có tiền sử phơi nhiễm đáng kể với khói thuốc không và bệnh nhân có đang hút thuốc không.

Điều quan trọng là xác định xem bệnh nhân có tiền sử ợ nóng, vị đắng trong miệng, ho hoặc mắc nghẹn sau khi ăn, thoát vị khe thực quản và/hoặc trào ngược dạ dày-thực quản hay khó nuốt không.[65][66] Tuy nhiên, nên coi bệnh trào ngược dạ dày-thực quản là nguyên nhân tiềm ẩn của đợt kịch phát tái phát, ngay cả khi bệnh nhân thiếu các triệu chứng và dấu hiệu điển hình nêu trên của chứng trào ngược dạ dày-thực quản.

Chưa có nghiên cứu nào cho biết liệu việc điều trị bệnh trào ngược có giúp cải thiện tình trạng kịch phát COPD không.

Các triệu chứng này và những triệu chứng không đặc trưng khác, như chứng mất ngủ, giảm khả năng hoạt động và chán ăn, thường được phát hiện ở những bệnh nhân bị kịch phát cấp COPD.[173][176]

Mặc dù những triệu chứng này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, chúng thường không được sử dụng để xác định xem đợt kịch phát có xảy ra hay không.

Tình trạng này có thể do tắc nghẽn đường thở và chứng căng phổi quá mức trầm trọng hơn.[14] Tuy nhiên, nên xem xét nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc tràn khí màng phổi nếu có dấu hiệu tức ngực hoặc ngực khó chịu rõ rệt.

Biến chứng này có thể xuất hiện bắt nguồn từ hiện tượng tăng co mạch vì tình trạng giảm oxy huyết do đợt kịch phát gây ra. Kết quả là sức cản mạch phổi và/hoặc áp lực động mạch phổi tăng có thể dẫn đến suy tim phải cấp tính. Có thể dẫn đến áp lực tĩnh mạch cổ tăng, phản hồi gan-tĩnh mạch cảnh, phù nề vùng ngoại vi và hạ huyết áp tương đối

Cần xác định xem bệnh nhân có tiền sử phơi nhiễm nhiều với khói đen, như khói gỗ, bụi và/hoặc các chất ô nhiễm khác hay không.

Bao gồm buồn ngủ, lú lẫn và/hoặc thay đổi tính cách

Dấu hiệu nhiễm khuẩn (dựa trên lượng đờm mủ tăng và/hoặc lượng đờm tăng) có thể được coi là dấu hiệu chỉ định liệu pháp kháng vi sinh vật.[1] Nhìn chung, <50% bệnh nhân trong đợt kịch phát cấp bị sốt.[31][35][58]

Tình trạng sốt cao và/hoặc dai dẳng có thể cần phải xem xét khả năng viêm phổi do vi khuẩn hoặc nhiễm vi-rút cúm.

Dấu hiệu cho thấy suy hô hấp sắp xảy ra.

Dấu hiệu cho thấy suy hô hấp sắp xảy ra.

Các yếu tố nguy cơ

Mầm bệnh vi khuẩn được cho là nguyên nhân chính gây ra các đợt kịch phát cấp COPD. Bằng chứng cho thấy đờm mủ xuất hiện thường có liên quan đến tình trạng viêm đường hô hấp dưới do vi khuẩn.[58] Do đường hô hấp dưới ở bệnh nhân mắc COPD không vô trùng, nên cần thận trọng khi diễn giải kết quả nuôi cấy ở cả mẫu đường hô hấp trên và dưới. Có nhiều bằng chứng khác nhau về vấn đề liệu số lượng cụm vi khuẩn lớn hơn mức cơ sở có xuất hiện ở các bệnh nhân vào đợt kịch phát cấp COPD hay không.[59][60]

Các mầm bệnh vi khuẩn hay gặp nhất bao gồm Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae và Moraxella catarrhalis.[31][51] Vai trò của các mầm bệnh gram dương khác như Staphylococcus aureus và mầm bệnh gram âm như Pseudomonas aeruginosa trong sinh bệnh học của đợt kịch phát cấp COPD ít hơn, tuy nhiên bệnh nhân mắc COPD nặng hơn, và tần suất và/hoặc độ nặng của đợt kịch phát cao hơn, hoặc những bệnh nhân mới nhập viện gần đây hoặc gần đây (trong vòng 2 tuần) sử dụng corticosteroid toàn thân hàng ngày (tức là >10 mg/ngày prednisolone) có nhiều khả năng bị các mầm bệnh này cư trú hơn.[31][61]

Đáng chú ý là bệnh nhân mắc COPD nhiễm một chủng vi khuẩn mới đã được chứng minh có nguy cơ xảy ra đợt kịch phát cấp.[62] Sự thay đổi trong đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và/hoặc thích ứng có thể dẫn đến tình trạng viêm và nhiễm trùng vĩnh viễn theo chu kỳ.[42]

Việc lây nhiễm đồng thời cả mầm bệnh vi khuẩn và vi-rút đường hô hấp là nguyên nhân gây ra các đợt bệnh nặng hơn.[50] Điều trị kháng sinh cho các đợt kịch phát từ vừa đến nặng sẽ mang lại kết quả khả quan.[63][64] Tiêm vắc-xin cúm có thể có tác dụng bảo vệ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm Pseudomonas aeruginosa.[31]

Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản và rối loạn chức năng nuốt do hít thường là tác nhân khởi phát thường gặp của các đợt kịch phát COPD.[65][66] Chưa có nghiên cứu nào cho biết liệu việc điều trị bệnh trào ngược có giúp cải thiện tình trạng kịch phát COPD không.

Theo ước tính, vi-rút đường hô hấp gây ra từ 22% đến 50% số đợt kịch phát cấp.[33]

Rhinovirus đã được phân lập từ bệnh nhân bị kịch phát cấp COPD thường xuyên hơn các loại vi-rút khác.[67]

Vi-rút cúm, siêu vi hợp bào hô hấp, vi-rút á cúm, coronavirus, adenovirus và metapneumovirus ở người cũng có liên quan đến các đợt bệnh.[31][34][35][68]

Các đợt kịch phát liên quan đến vi-rút đường hô hấp đã được chứng minh là nghiêm trọng hơn và cần thời gian điều trị lâu hơn so với đợt kịch phát do các tác nhân khởi phát khác.[67][69] Tình trạng đồng nhiễm mầm bệnh vi-rút và vi khuẩn cũng khá phổ biến.

Có giả thiết cho rằng sự hiện diện mạn tính của vi-rút đường hô hấp trong đường hô hấp dưới có thể liên quan đến sinh bệnh học của COPD.[70]

Hàm lượng chất ô nhiễm tăng, đặc biệt là nitrogen dioxide (NO2), sulphur dioxide (SO2), khí ozon (O3) và các hạt khói đen, bao gồm khói từ gỗ, có liên quan đến tỷ lệ kịch phát cấp và nhập viện cao hơn ở bệnh nhân mắc COPD.[71][72][73] Ô nhiễm không khí nghiêm trọng cũng có thể làm tăng tỷ lệ nhập viện và tỷ lệ tử vong.[74]

Người ta phát hiện rằng việc tiếp xúc với nhiều chất ô nhiễm trong số này sẽ gây phản ứng viêm trong đường hô hấp.[28]

Các loại vi khuẩn không điển hình (các loài Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae và Legionella) đã gây ra các đợt kịch phát cấp, mặc dù kết quả nhiều mâu thuẫn nhau.[75][76][77] Không có đủ bằng chứng cho thấy việc điều trị kháng vi sinh vật cho mầm bệnh vi khuẩn không điển hình sẽ cho kết quả khả quan.

Thay đổi nhiệt độ và độ ẩm cũng dẫn đến tăng nguy cơ xảy ra đợt kịch phát cấp COPD.[28][78] Tuy nhiên, vẫn chưa xác định rõ liệu thay đổi về nhiệt độ và/hoặc độ ẩm môi trường hay thay đổi về nguy cơ lây nhiễm do vi-rút đường hô hấp và/hoặc mầm bệnh khác gây ra trường hợp này.

Tỷ lệ kịch phát và tỷ lệ tử vong do tất cả nguyên nhân có xu hướng cao hơn vào mùa đông.[19]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi