Phân biệt

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Bệnh nhân bị suy tim tâm thu của thất bên trái hoặc cả 2 tâm thất sẽ thường có tiền sử suy tim. Tình trạng suy tim tâm trương tiềm ẩn thường không được nhận biết đầy đủ.

Quá trình khám lâm sàng có thể chỉ ra các dấu hiệu liên quan đến suy tim như áp lực tĩnh mạch cổ tăng, tiếng tim T3,T4, âm thở thô có riếng ran phía trên đáy phổi, thở khò khè và phù mềm ấn lõm.[183] Có thể khó phân biệt suy tim, đặc biệt là suy tim trái, với đợt kịch phát cấp COPD.

CÁC XÉT NGHIỆM

Chụp ngực có thể cho thấy bóng tim to, xung huyết mạch máu phổi và/hoặc tràn dịch màng phổi. Peptid lợi niệu loại B thường tăng cao.[184][185] Có thể tiến hành siêu âm tim để xác định chức năng tim.

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Có thể phát hiện nhiều khía cạnh của đợt kịch phát cấp bao gồm khó thở, ho và sinh đờm ở bệnh nhân bị viêm phổi và thường không thể phân biệt nếu không chụp ngực.

Khoảng 10% đến 15% bệnh nhân bị kịch phát cấp rõ ràng được phát hiện bị viêm phổi hoặc những bất thường khác, thông qua chụp ngực.[186][187][188] Bệnh nhân viêm phổi thường bị sốt cao hơn, khởi phát bệnh cấp tính hơn và đôi khi tình trạng bệnh cấp tính nặng hơn so với bệnh nhân COPD không bị viêm phổi.[186][189] Viêm phổi, một nguyên nhân gây mất bù hô hấp ở bệnh nhân mắc COPD, không nhất thiết là dấu hiệu của đợt kịch phát COPD (tức là tình trạng tắc nghẽn đường thở trầm trọng hơn liên quan đến viêm đường thở và/hoặc co thắt phế quản) và cần xem xét cẩn thận xem corticosteroid toàn thân có được đảm bảo ở những bệnh nhân này không.

CÁC XÉT NGHIỆM

Hình ảnh chụp ngực của bệnh nhân bị viêm phổi có thể xác định được những hình ảnh đông đặc liên quan đến quá trình thâm nhiễm vào nhu mô phổi.

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Tràn dịch màng phổi có thể làm trầm trọng tình trạng khó thở ở bệnh nhân mắc COPD. Khám lâm sàng có thể chỉ ra rì rào phế nang giảm hoặc biến mất với gõ đục vừa liên quan đến tràn dịch màng phổi.

CÁC XÉT NGHIỆM

Nên chụp ngực.

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Bệnh nhân mắc COPD bị phát hiện tràn khí màng phổi có thể có hoặc không có dấu hiệu hoặc triệu chứng bổ sung cho thấy nhiễm trùng đường hô hấp, tuy nhiên sự xuất hiện của chúng liên quan mật thiết đến đợt kịch phát cấp. Rì rào phế nang giảm có thể được phát hiện ở bên bị bệnh và lệch khí quản cách xa bên bị bệnh và/hoặc tình trạng hạ huyết áp xảy ra ở bệnh nhân bị tràn khí màng phổi dưới áp lực.

CÁC XÉT NGHIỆM

Nên chụp ngực để loại trừ khả năng tràn khí màng phổi ở những bệnh nhân có đợt bệnh trên mức nhẹ.[190]

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Xét về mặt lâm sàng, thuyên tắc phổi có thể xuất hiện với các dấu hiệu và triệu chứng tương tự như đợt kịch phát cấp COPD và rất khó để phân biệt hai tình trạng này.[191] Nên coi thuyên tắc phổi là một nguyên nhân gây ra các triệu chứng cấp tính nếu không phát hiện được tác nhân khởi phát nào khác gây ra đợt kịch phát. Bệnh nhân bị thuyên tắc huyết khối trước đó hoặc bệnh ác tính tiềm ẩn có thể có nguy cơ cao.[191]

Huyết áp tâm thu thấp và/hoặc không thể tăng PaO2 >60 mmHg bằng oxy có thể cho thấy tình trạng thuyên tắc phổi.

CÁC XÉT NGHIỆM

Có thể chẩn đoán thuyên tắc động mạch phổi bằng cách sử dụng xét nghiệm D-dimer, chụp mạch thông qua chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc hoặc chụp mạch máu phổi ở bệnh nhân mắc COPD. Việc lựa chọn xét nghiệm cần dựa trên khả năng của cơ sở điều trị. Có thể xem xét tiến hành siêu âm màu doppler các chi dưới để đánh giá huyết khối tĩnh mạch sâu.

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Về mặt lâm sàng, khó có thể phân biệt. Đau ngực có thể rõ ràng hơn với lan xuống dưới bên trái. Có thể bị buồn nôn, đau quai hàm và/hoặc toát mồ hôi.

CÁC XÉT NGHIỆM

Nên tiến hành điện tâm đồ, đặc biệt ở những bệnh nhân có thể cần nhập viện để điều trị đợt kịch phát cấp COPD, nhằm xác định thiếu máu cục bộ và chứng loạn nhịp tim có thể xảy ra.[1]

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Các đặc điểm phân biệt có thể bao gồm đánh trống ngực, chóng mặt, mất ý thức và/hoặc bất tỉnh.

CÁC XÉT NGHIỆM

Nên tiến hành điện tâm đồ, đặc biệt ở những bệnh nhân có thể cần nhập viện để điều trị đợt kịch phát cấp COPD hoặc bệnh nhân bị đánh trống ngực hoặc chóng mặt, nhằm xác định thiếu máu cục bộ và chứng loạn nhịp tim có thể xảy ra.[1]

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Tình trạng tắc nghẽn đường thở lớn thường xuất hiện chứng khó thở và thở khò khè (đặc biệt khi gắng sức và thao tác thở ra gắng sức) và thường bị chẩn đoán nhầm là đợt kịch phát kháng trị COPD; tắc nghẽn đường thở phía trên do thay đổi cấu trúc đường thở thường do chứng nhuyễn khí quản, hít phải dị vật hoặc khối u đường thở trung tâm gây ra; tắc nghẽn đường thở phía trên do tác động phía ngoài thường do tình trạng liệt dây thanh quản, cũng như tình trạng viêm và sưng mô mềm quanh thanh quản và co thắt dây thanh quản từng cơn liên quan đến GORD, chứng ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn không được chẩn đoán hoặc điều trị và chảy nước mũi sau mạn tính gây ra; tắc nghẽn đường thở trên cố định có thể do chứng hẹp khí quản (ví dụ: do từng đặt nội khí quản để thông khí nhân tạo), chèn ép bên ngoài đường thở trung tâm (ví dụ: bệnh hạch bạch huyết hoặc khối), hay khối u đường thở lớn gây ra; nên thực hiện nghe vùng thanh quản, khí quản và phế quản chính cả khi thở nhẹ và thở ra gắng sức hoặc thở nhanh sâu để đánh giá tình trạng tắc nghẽn đường thở trên; chứng thở khò khè hoàn toàn biến mất lúc nghỉ nhưng lại xuất hiện lúc gắng sức hoặc thở ra gắng sức chứng tỏ chứng co thắt phế quản liên quan đến đợt kịch phát COPD.

CÁC XÉT NGHIỆM

Phế dung kế có vòng lặp dòng chảy thể tích có thể xác định tình trạng tắc nghẽn đường thở trên; khi nghi ngờ tình trạng nhuyễn khí phế quản, chụp CT khi hít vào và thở ra hoặc kiểm tra đường thở bằng cách nội soi phế quản trực tiếp có thể dùng để chẩn đoán.

TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG
CÁC XÉT NGHIỆM
TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ/CƠ NĂNG

Mặc dù liệu pháp cấp oxy được chỉ định rõ cho nhiều bệnh nhân mắc COPD và đợt kịch phát cấp, lượng oxy quá mức có thể gây suy giảm thêm sinh lý hô hấp của bệnh nhân. Việc phơi nhiễm với oxy gây giảm hiện tượng co mạch do giảm oxy ở động mạch tạo ra không gian thông khí kém, làm tăng mức độ bất tương hợp V/Q và/hoặc shunt bên trong phổi.[192][193] Lượng oxy quá mức cũng có thể làm giảm khả năng vận chuyển CO2 của hồng cầu (hiệu ứng Haldane).[194] Sau đó, những thay đổi này có thể dẫn đến chứng tăng cacbon dioxit huyết và nhiễm toan hô hấp trầm trọng hơn. Những bệnh nhân bị suy hô hấp được chọn cũng có thể xuất hiện chứng tăng cacbon dioxit huyết trầm trọng hơn.

CÁC XÉT NGHIỆM

Nên thực hiện ABG cho bệnh nhân giảm oxy huyết hoặc đang tiếp nhận liệu pháp oxy có đợt kịch phát cấp COPD rõ ràng.

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi