Cách tiếp cận

Mục tiêu cuối cùng của việc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là ngăn chặn và kiểm soát các triệu chứng, giảm mức độ nghiêm trọng và số đợt bùng phát, cải thiện khả năng hô hấp chịu được tập luyện tăng, và giảm tỷ lệ tử vong.[1] Có một phương pháp trị liệu theo bậc thang, nhưng điều quan trọng cần nhớ là việc điều trị sẽ được thực hiện theo tình trạng sức khỏe chung và bệnh lý kèm theo của từng cá nhân.

Phương pháp trị liệu liên quan đến việc giảm phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ, đánh giá bệnh thích hợp, hướng dẫn cho bệnh nhân, điều trị bằng thuốc và không bằng thuốc cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ổn định, ngăn chặn và điều trị các đợt bùng phát cấp tính của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Đánh giá và theo dõi bệnh liên tục

Theo dõi và đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính liên tục đảm bảo đáp ứng mục tiêu điều trị. Chất lượng cuộc sống và cảm giác khỏe mạnh của bệnh nhân sẽ cải thiện và tỷ lệ nhập viện giảm đáng kể trong các ca tự theo dõi bệnh hoặc được theo dõi chuyên nghiệp.[29] Đánh giá bệnh sử bao gồm:

Phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ và biện pháp phòng ngừa:

  • Hút thuốc

  • Phơi nhiễm nghề nghiệp (khói, bụi, v.v.)

  • Tiêm vắc-xin ngừa cúm và viêm phổi.

Tiến tiến triển bệnh và phát triển các biến chứng:

  • Suy giảm khả năng chịu đựng khi tập luyện

  • Triệu chứng tăng

  • Không ngủ ngon

  • Không làm việc hoặc tham gia các hoạt động khác

Điều trị bằng thuốc và điều trị y tế khác:

  • Mức độ thường xuyên sử dụng ống xịt

  • Có d loại thuốc mới nào

  • Tuân thủ phác đồ y tế

  • Khả năng sử dụng ống xịt đúng cách

  • Tác dụng bất lợi.

Tiền sử đợt bùng phát

  • Chăm sóc khẩn cấp hoặc đến phòng cấp cứu

  • Các đợt sử dụng corticosteroid đường uống gần đây

  • Tần suất, mức độ nghiêm trọng và các nguyên nhân có khả năng gây ra ffojt bùng phát sẽ được đánh giá.

Mắc nhiều bệnh đồng thời

  • Đánh giá các vấn đề y tế đồng thời (như suy tim).

Ngoài ra, nên tiến hành đánh giá mục tiêu chức năng phổi hàng năm hoặc thường xuyên hơn nếu các triệu chứng tăng lên đáng kể.

Quản lý bệnh tổng hợp (IDM) nơi mà các bác sĩ chăm sóc sức khỏe (nhà vật lý trị liệu, bác sĩ hô hấp, y tá, v.v.) cùng làm việc với bệnh nhân cho thấy cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm tỷ lệ nhập viện.[30] [ Cochrane Clinical Answers logo ]

Đợt bùng phát cấp tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trở nặng bùng phát được xác định là sự thay đổi tình trạng khó thở, ho, và/hoặc đờm của bạn nhân vượt quá các biến thể thông thường hàng ngày và khởi phát cấp tính.

Bệnh nhân có thể được điều trị nội trú hoặc ngoại trú, tùy theo mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và các bệnh phối hợp. Nhập viện được chỉ định khi mắc nhiều bệnh đồng thời đáng kể (suy tim, chứng loạn nhịp, bệnh thận), điều trị ngoại trú không thành công, trao đổi khí tệ hơn, hoặc không có khả năng xử lý tại nhà.[1]

Cân nhắc tiếp nhận vào đơn vị chăm sóc tích cực (ICU) đối với những bệnh nhân có chức năng hô hấp xấu đi (giảm oxy máu hoặc tăng khí cacbonic máu), nhiễm toan hô hấp nặng hoặc huyết động không ổn định, và những người cần thở máy.[1] Trong những trường hợp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bùng phát nghiêm trọng, có thể không tránh khỏi việc sử dụng thở máy không xâm nhập áp lực dương (NIPAP) và/hoặc thở máy.[31][32]

Nhiễm trùng thường là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt bùng phát Thuốc kháng sinh theo kinh nghiệm trong các ca nghi ngờ nhiễm trùng thường được sử dụng vì nó có hiệu lực lên chức năng phổi và thời gian bệnh, cũng như khả năng giúp ích cho tình trạng khó thở, ho, và đờm có mủ, nhất là đối với những bệnh nhân được tiếp nhận vào ICU.[33][34] [ Cochrane Clinical Answers logo ] Thuốc kháng sinh được chọn theo mức độ nghiêm trọng của dợt bùng phát và liệu bệnh nhân có được điều trị tại bệnh viện hay không.[33][35][36][37]

Thuốc giãn phế quản được chỉ định có hoặc không có hỗ trợ oxy. Corticosteroids đường uống cũng sẽ được cân nhắc.[1] Liệu pháp corticosteroid trong thời gian ngắn (tức thường 5 ngày) có vẻ hiệu quả như thời gian 10 đến 14 ngày.[38][39] [ Cochrane Clinical Answers logo ] Khi cần điều trị đợt bùng , liệu pháp đường uống hoặc đường tiêm tốt hơn là corticosteroid dạng hít.[40][41] Prednisolone đường uống trong 5 ngày (40 mg/ngày) được khuyến nghị theo hướng dẫn Sáng kiến toàn cầu về Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD).[1] Không có bằng chứng cho thấy rằng việc điều trị đường tiêm tốt hơn liệu pháp đường uống khi so sánh tình trạng tái phát, điều trị không thành công, hoặc tỷ lệ tử vong. Liệu pháp đường tiêm có nguy cơ tác dụng phụ rất lớn.[41]

Điều trị lâu dài: liệu pháp theo bậc thang theo loại GOLD

Hướng dẫn GOLD[1] khuyến nghị phương pháp bậc thang cho liệu pháp điều trị bằng thuốc:

  • Đối với bệnh nhân nhóm A (một vài triệu chứng và nguy cơ đợt bùng phát thấp), thuốc giãn phế quản được đề nghị đầu tiên. Đây có thể là thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn hoặc dài. Liệu pháp này sẽ được tiếp tục nếu lợi ích triệu chứng được thấy.

  • Đối với bệnh nhân nhóm B (nhiều triệu chứng và nguy cơ đợt bùng phát thấp), thuốc giãn phế quản tác dụng dài sẽ được đề nghị đầu tiên. Nếu bệnh nhân có các triệu chứng dai đẳng khi sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng dài, thì hai loại thuốc giãn phế quản được khuyến nghị sử dụng. Đối với bệnh nhân khó thở nặng, điều trị ban đầu với hai loại thuốc giãn phế quản có thể được chỉ định. Bằng chứng A

  • Đối với bệnh nhân nhóm C (ít triệu chứng nhưng có nguy cơ bị đợt cấp cao hơn), điều trị bước một nên dùng thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài và GOLD khuyến cáo bắt đầu dùng chất đối kháng muscarinic tác dụng kéo dài (LAMA) cho nhóm này. [ Cochrane Clinical Answers logo ] Bệnh nhân trải qua các đợt cấp có thể cải thiện từ việc bổ sung thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài thứ hai (chất chủ vận beta-2 tác dụng kéo dài [LABA] hoặc LAMA) hoặc sử dụng kết hợp giữa LABA và corticosteroid dạng hít (ICS). GOLD khuyến cáo dùng kết hợp LABA/LAMA thay vì LABA/ICS, bởi ICS làm tăng nguy cơ bị viêm phổi ở một số bệnh nhân. [ Cochrane Clinical Answers logo ]

  • Đối với bệnh nhân nhóm D (nhiều triệu chứng và nguy cơ bùng phát cao), GOLD khuyến nghị bắt đầu liệu pháp với sự kết hợp LABA/LAMA. Nếu bệnh nhân trải qua đợt bùng phát khác khi đang sử dụng kết hợp LABA/LAMA, họ có thể thử tiếp tục LABA/LAMA/ICS, hoặc chuyển sang LABA/ICS. Nếu bệnh nhân được điều trị với LABA/LAMA/ICS vẫn có các đợt bùng , thì có các lựa chọn khác như bổ sung roflumilast, hoặc macrolide, hoặc ngưng ICS.

Tất cả các bệnh nhân đều được tham gia hướng dẫn, tiêm vắc-xin, và can thiệp ngưng hút thuốc. Bằng chứng A

Lựa chọn điều trị bằng thuốc giãn phế quản

Chất kích thích beta được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bằng chứng A Chúng làm tăng cAMP nội bào, giúp thư giãn cơ trơn hô hấp và giảm sức cản đường thở. Chúng có ở dạng bào chế tác dụng ngắn và dài. Chất đối kháng beta-2 tác dụng ngắn cải thiện chức năng phổi và sự khó thở cũng như chất lượng cuộc sống. Những chất này có thể được sử dụng như là liệu pháp cấp cứu khi bệnh nhân đang sử dụng liệu pháp chất đối kháng beta-2 tác dụng dài.[42] LABA cải thiện chức năng phổi, tình trạng khó thở, tỷ lệ đợt cấp và số lần nhập viện, nhưng không tác động đến tỷ lệ tử vong hoặc tốc độ giảm chức năng phổi.[1]

Chất đối kháng muscarinic là một dạng thuốc kháng cholin, hoạt động như là thuốc giãn phế quản bằng cách chặn các thụ thể cholin trên cơ trơn hô hấp. Điều này giúp cơ thư giãn và giảm giới hạn luồng khí. Bằng chứng B Chất đối kháng muscarinic dạng hít có sẵn ở cả dạng bào chế tác dụng ngắn và kéo dài. [ Cochrane Clinical Answers logo ] Tiotropium, một LAMA, đã được chứng minh là làm giảm nguy cơ đợt cấp so với giả dược hoặc các biện pháp điều trị duy trì khác.[43] LAMA mới hơn, như aclidinium, glycopyrronium và umeclidinium, có hiệu quả ít nhất là tương đương với tiotropium về mặt thay đổi so với mức cơ sở ở thể tích thở ra gắng sức đáy trong 1 giây (FEV1), thang điểm về chỉ số khó thở chuyển tiếp, điểm trong Bảng câu hỏi về hô hấp của St George và sử dụng thuốc giải cứu.[44] Một số nghiên cứu trên bệnh nhân dùng chất đối kháng muscarinic tác dụng ngắn và một số nghiên cứu trên bệnh nhân dùng LAMA, có cho thấy tăng tỷ lệ tử vong liên quan đến tim mạch.[45][46] Nghiên cứu đoàn hệ dựa trên dân số đã phát hiện ra rằng nam giới lớn tuổi bị COPD mới bắt đầu dùng LAMA có nguy cơ cao bị nhiễm trùng đường tiết niệu.[47]

Do đó, chất kích thích beta và chất đối kháng muscarinic có tác dụng làm giãn phế quản qua các đường khác nhau. Sự kết hợp này có thể mang đến hiệu quả điều trị tốt hơn mà không làm tăng tác dụng phụ của từng loại.[48][49][50][51] Bằng chứng A So với LABA/ICS, tổ hợp LABA/LAMA gây ra ít đợt cấp hơn, cải thiện FEV1 nhiều hơn, nguy cơ bị viêm phổi thấp hơn và thường cải thiện chất lượng cuộc sống hơn.[52] Nghiên cứu tổng quát và phân tích tổng hợp hệ thống phát hiện ra rằng tất cả các tổ hợp LABA/LAMA liều cố định có hiệu quả và độ an toàn như nhau.[53]

Trong trường hợp bệnh phổi tắc nghẹn mạn tính ổn định, nếu có quyết định sử dụng liệu pháp điều trị đơn chất, thì LAMA có thể tốt hơn LABA.[48] Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng LAMA có hiệu quả cao hơn trong việc giảm tỷ lệ bệnh bùng phát so với LABA.[54][55] Sự an toàn lâu dài của LAMA được chứng tỏ trong thử nghiệm UPLIFT.[56] Như được nêu ở trên, GOLD khuyến nghị thuốc ban đầu dựa trên nhóm nguy cơ của bệnh nhân (A, B, C, hoặc D).[1]

Theophylline (chất methylxanthine) là thuốc giãn phế quản làm tăng cAMP và làm thư giãn cơ trơn hô hấp. Chất này không thường được sử dụng vì tính hiệu nghiệm giới hạn, ngưỡng điều trị hẹp, danh mục nguy cơ cao, và khả năng tương tác thuốc- thuốc thường xuyên. Theophylline được chỉ định cho những triệu chứng dai đẳng nếu liệu pháp dạng hít không đủ để làm giảm tình trạng tắc nghẽn luồng khí. Bằng chứng A Theophylline có tác dụng vừa phải lên chức năng phổi ở bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trung bình đến nặng.[57]

Umeclidinium/vilanterol là LABA/LAMA được phê duyệt sử dụng cho COPD.[58] Glycopyrronium/formoterol fumarate là sự kết hợp khác của LABA/LAMA được chấp nhận cho những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,[59] như là indacaterol/glycopyrronium.[60][61] Thuốc xịt mỗi ngày một lần này cho thấy hiệu lực tuyệt vời so với glycopyrronium và tiotropium ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trung bình đến nặng,[62] và so với salmeterol/fluticasone trong việc phòng ngừa bệnh phổi tắc nghẹn mạn tính bùng .[63]

Corticosteroid dạng hít

Corticosteroid dạng hít được chỉ định cho những bệnh nhân đang ở các giai đoạn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tiến triển với nhiều đợt bùng phát tiếp .[64] Chúng sẽ được bổ sung vào liệu pháp thuốc giãn phế quản hiện tại của bệnh nhân và sẽ không được sử dụng như là đơn trị liệu.[1] Người ta tin rằng corticosteroid dạng hít có hiệu quả vì tác động kháng viêm của nó. Sử dụng corticosteroid dạng hít lâu dài giúp giảm nhu cầu sử dụng liệu pháp cấp cứu và giảm đợt bùng phát, và cũng có thể giảm tỷ lệ tử vong.[65][66] [ Cochrane Clinical Answers logo ] Một vài nghiên cứu để chỉ ra nguy cơ viêm phổi tăng ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang sử dụng corticosteroid dạng hít.[67] Nguy cơ này hơi cao hơn đối với fluticasone so với budesonide.[68] Nghiên cứu tổng quát và phân tích tổng hợp đã phát hiện ra rằng, mặc dù tăng đáng kể nguy cơ bị viêm phổi không điều chỉnh liên quan đến việc sử dụng corticosteroid dạng hít, khả năng tử vong do viêm phổi và tỷ lệ tử vong nói chung không tăng ở các thử nghiệm đối chứng, ngẫu nhiên và giảm ở các nghiên cứu quan sát.[69] Do đó, nên thực hiện phương pháp điều trị theo cá nhân mà trong đó có đánh giá nguy cơ viêm phổi so với lợi ích giảm đợt cấp của bệnh nhân.[67][70][71] Cũng có mối quan ngại về nguy cơ bệnh lao và cúm tăng cao ở bệnh nhân người lớn mắc COPD đang sử dụng liệu pháp corticosteroid dạng hít.[72]

Theo hướng dẫn GOLD, corticosteroid dạng hít không được khuyến cáo làm liệu pháp đầu tay trong bất kỳ nhóm bệnh nhân nào từ A đến D. Chúng chỉ được khuyến cáo như là một phần trong quá trình tăng dần liệu pháp nếu bệnh nhân tiếp tục gặp các đợt cấp mặc dù đang sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài.[1]

Thuốc ức chế phosphodiesterase-4

Roflumilast là thuốc ức chế phosphodiesterase-4 đường uống có thể làm giảm các đợt cấp ở các bệnh nhân thuộc nhóm D có nguy cơ đợt cấp thường xuyên khi không được kiểm soát đầy đủ bằng thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài.[1] Chất này giúp cải thiện chức năng phổi và giảm khả năng bệnh ùng phát. Tuy nhiên, nó hơi ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hoặc các triệu chứng.[73]

Thuốc giãn phế quản kết hợp và các chế phẩm corticosteroid

Một chế phẩm kết hợp thuốc giãn phế quản tác dụng dài và corticosteroid dạng hít có thể được sử dụng cho những bệnh nhân cần cả hai chất này. Điều này rất thuận tiện và có thể giúp ích phù hợp với một số bệnh nhân. Việc chọn lựa liệu pháp trong loại này dựa trên tình trạng có thuốc và đáp ứng cũng như ưu tiên cá nhân.[74] Liệu pháp kết hợp với corticosteroid dạng hít và chất kích thích beta tác dụng dài tốt hơn là sử dụng chỉ một chất.[75][76] [ Cochrane Clinical Answers logo ] Sự kết hợp này có thể được cung cấp trong các ống hít riêng lẻ hoặc trong ống hít kết hợp.

Nhiều nghiên cứu ủng hộ phác đồ ba thuốc gồm LABA/LAMA/ICS là biện pháp ưu việt hơn so với phác đồ một hoặc hai thuốc gồm LABA/LAMA hoặc LABA/ICS liên quan đến tỷ lệ đợt cấp COPD từ trung bình đến nặng[77][78][79][80] và tỷ lệ nhập viện.[81][82]

Giáo dục bệnh nhân và tự kiểm soát của bệnh nhân

Tất cả các bệnh nhân sẽ được hướng dẫn đầy đủ về thời gian bệnh và các triệu chứng đợt bùng phát hoặc mất bù. Mong đợi về bệnh lý, điều trị, và tiên lượng bệnh của bệnh nhân sẽ hiện thực hoá. Điều quan trọng cần nhớ rằng không có loại thuốc nào cho thấy có thể giúp điều chỉnh tình trạng suy giảm chức năng phổi lâu dài, và mục tiêu chính của việc điều trị bằng thuốc là kiểm soát các triệu chứng và phòng ngừa các biến chứng.

Đánh giá Cochrane đã phát hiện ra rằng can thiệp tự kiểm soát bao gồm kế hoạch hành động cho các đợt cấp COPD giúp cải thiện chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe và giảm số lần nhập viện vì các vấn đề hô hấp. Một phân tích thăm dò cho thấy tỷ lệ tử vong liên quan đến hô hấp trong hoạt động tự kiểm soát ở mức thấp, nhưng cao hơn đáng kể so với hoạt động chăm sóc thông thường, mặc dù không thấy tăng nguy cơ tử vong do tất cả các nguyên nhân.[83]

Một thử nghiệm đối chứng, ngẫu nhiên phát hiện ra rằng can thiệp hướng dẫn chăm sóc sức khỏe qua điện thoại để thúc đẩy thay đổi hành vi ở bệnh nhân mắc COPD nhẹ trong chăm sóc ban đầu dẫn đến cải thiện hoạt động tự kiểm soát, nhưng không cải thiện chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe.[84]

Hoạt động thể chất được khuyến nghị cho tất cả bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.[1] Một nghiên cứu tổng quát và phân tích tổng hợp các thử nghiệm đối chứng, ngẫu nhiên đã phát hiện ra rằng luyện tập thể dục có thể cải thiện hoạt động thể chất ở người mắc bệnh COPD và có thể cải thiện nhiều hơn khi tư vấn thêm về hoạt động thể chất.[85] Một nghiên cứu tổng quát và phân tích tổng hợp khác đã phát hiện ra rằng kết hợp tập thể dục nhịp điệu và tập luyện sức mạnh có hiệu quả hơn là chỉ tập luyện sức mạnh hoặc tập luyện sức bền trong việc tăng khoảng cách đi bộ trong 6 phút.[86]

Ngưng hút thuốc và tiêm vắc-xin

Nên khuyến khích tất cả các bệnh nhân bỏ hút thuốc, ngoài việc hướng dẫn tránh phơi nhiễm nghề nghiệp hoặc tiếp xúc với khói thuốc lá môi trường.

Các chương trình ngưng hút thuốc thông thường bao gồm tư vấn, gặp gỡ nhó, và điều trị bằng thuốc.[87] Một số bệnh nhân có thể cần được tư vấn thường xuyên để đạt được thành công. Việc ngưng hút thuốc giúp giảm đáng kể tỷ lệ tiến triển bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và nguy cơ bệnh ác tính. Bằng chứng A Điều này cũng giúp giảm nguy cơ bệnh mạch vành và mạch máu não. Ngưng hút thuốc bao gồm điều trị bằng thuốc và tư vấn chuyên sâu có tỷ lệ thành công cao và có hiệu quả chi phí trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, với chi phí thấp cho một năm điều chỉnh chất lượng cuộc sống.[88][89][90]

Bệnh nhân cần được tiêm vắc-xin chống vi-rút cúm và Streptococcus pneumoniae.[1][91] Tiêm vắc-xin ngừa cúm liên quan đến một vài trường hợp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bùng .[91][92] [ Cochrane Clinical Answers logo ]

Thuốc long đờm

Bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính kiểu viêm phế quản thường có đờm đặc. Các thuốc long đờm không liên quan đến việc làm tăng tác dụng phụ và có thể giúp ích trong đợt bùng phát. Chúng giảm tần suất đợt bùng phát cấp tính với tỷ lệ nhỏ, nhưng không cải thiện chức năng phổi hoặc chất lượng cuộc sống. Thuốc long đờm có thể giúp ích nhiều nhất cho bệnh nhân không sử dụng corticosteroid dạng hít.[93] [ Cochrane Clinical Answers logo ] Người ta nhận thấy rằng liệu pháp áp lực dương tính thở ra (PEP) để làm sạch chất dịch trong các đợt bùng phát cấp tính được sử dụng để cải thiện cảm giác khó thở nhưng không liên quan đến việc giảm tỷ lệ nhập viện hoặc tỷ lệ bệnh trở nặng.[94]

Phục hồi phổi

Cần bắt đầu phục hồi chức năng phổi ở bệnh nhân vẫn còn có triệu chứng mặc dù đã dùng thuốc giãn phế quản và nên bắt đầu sớm trong giai đoạn bệnh, khi bệnh nhân bắt đầu cảm thấy khó thở ngay cả với hoạt động bình thường và đi bộ ở bề mặt bằng phẳng. Việc này có tác dụng cải thiện khả năng vận động và chất lượng cuộc sống. [ Cochrane Clinical Answers logo ] Nó cũng giúp giảm tình trạng trầm cảm và lo âu liên quan đến bệnh lý này, và giảm tỷ lệ nhập viện ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.[95] Lợi ích có vẻ giảm dần sau khi kết thúc thời gian hồi phục trừ khi bệnh nhân tuân theo kế hoạch tập luyện tại nhà.[96] Lợi ích của việc phục hồi chức năng phổi tại nhà hoặc tại cộng đồng về các triệu chứng hô hấp và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân mắc COPD có thể giống với lợi ích trong các chương trình hồi phục tại bệnh viện.[97][98] Mặc dù việc hồi phục phổi làm giảm tình trạng khó thở và mệt mỏi, cải thiện chức năng cảm xúc, và tăng cường khả năng kiểm soát đến mức độ tương đối lớn và quan trọng về mặt lâm sàng,[99] Điều quan trọng cần nhớ là việc hồi phục tập luyện tiến triển sớm vượt ngoài tiêu chuẩn luyện tập vật lý trị liệu hiện tại trong khi nhập viện điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính không được khuyến nghị và có thể liên quan đến tỷ lệ tử vong trong 12 tháng cao hơn.[100] Có bằng chứng hỗ trợ cho việc bắt đầu hồi phục phổi trong vòng 1 tháng kể từ khi đợt bùng phát cấp .[101][102]

Hướng dẫn GOLD khuyến nghị phục hồi phổi cho bệnh nhân nhóm B đến D.[1]

Liệu pháp oxy

Hướng dẫn GOLD khuyến nghị liệu pháp oxy lâu dài ở bệnh nhân ổn định có:[1]

  • PaO₂ ≤7,3 kPa (55 mmHg) hoặc SaO₂ ≤88%, có hoặc không tăng khí cacbonic máu được xác nhận hai lần trong giai đoạn 3 tuần; hoặc

  • PaO₂ từ 7,3 kPa (55 mmHg) đến 8,0 kPa (60 mmHg), hoặc SaO₂ là 88%, nếu có bằng chứng về tăng áp phổi, phù ngoại biên gợi ý suy tim, hoặc tăng hồng cầu (hematocrit > 55%).

Liệu pháp oxy giúp giảm thiểu chứng tăng áp phổi bằng cách giảm áp lực động mạch phổi, cải thiện khả năng chịu đựng khi tập luyện và chất lượng cuộc sống. Điều này đã được thể hiện là cải thiện tỷ lệ sống.[1][103][104] Bằng chứng B

Oxy được khuyến nghị cho bệnh nhân có PaO₂ dự đoán trong khi đi lại bằng máy bay là <6,7 kPa (<50 mmHg).[1] Những bệnh nhân này thường có độ bão hòa <92% trong không khí trong phòng ở mức nước biển. Nếu có nghi ngờ, bệnh nhân có thể được thử nghiệm để được đánh giá về PaO₂ dự đoán của họ trong suốt chuyến bay.

Có một số bằng chứng rằng oxy có thể giúp giảm khó thở khi được cung cấp trong khi tập thể dục đối với những người bị COPD giảm oxy máu nhẹ và không giảm oxy máu, vốn là những người không đủ tiêu chuẩn nhận liệu pháp oxy tại nhà.[105]

Phẫu thuật

Can thiệp phẫu thuật (cắt bỏ bóng khí, phẫu thuật giảm thể tích phổi,[106][107] [ Cochrane Clinical Answers logo ] và ghép phổi) là bước cuối cùng trong việc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Chúng được sử dụng để cải thiện động lực phổi, tham gia tập luyện, và chất lượng cuộc sống.[108] Đặt van nội khí quản có thể đem lại cải thiện đáng kể trên lâm sàng ở những bệnh nhân COPD được chọn phù hợp.[109]

Các tiêu chí để lựa chọn ghép phổi bao gồm:[110]

  • Bệnh tiến triển, mặc dù được điều trị tối đa bao gồm thuốc, phục hồi chức năng phổi và liệu pháp oxy.

  • Bệnh nhân không phù hợp với phẫu thuật giảm thể tích phổi bằng mổ hoặc nội soi (LVRS). Việc lựa chọn bệnh nhân mắc COPD để đồng thời ghép phổi và đánh giá LVR là phù hợp.

  • Chỉ số khối cơ thể, tắc nghẽn đường thở, khó thở và vận động (BODE) là 5 đến 6.

  • PaCO₂ >50 mmHg hoặc 6,6 kPa và/hoặc PaO₂ <60 mmHg hoặc 8 kPa.

  • FEV1 <25% mức dự đoán.

[ Chỉ số BODE để Dự đoán khả năng sống sót đối với bệnh nhân COPD ]

Chăm sóc giảm nhẹ

Đối với những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính rất tiến triển giai đoạn cuối, chăm sóc giảm nhẹ và nhập viện chăm sóc cuối đời sẽ được cân nhắc. Bệnh nhân và gia đình sẽ được hướng dẫn đầy đủ về quy trình, và được đề nghị thảo luận sớm trong giai đoạn bệnh trước khi tiến triển suy hô hấp cấp tính.[111] Một nghiên cứu cho thấy rằng thuốc giảm đau liều thấp và benzodiazepine rất an toàn và không liên quan đến việc nhập viện hoặc tỷ lệ tử vong tăng cao.[112]

Đánh giá Cochrane kết luận rằng không có bằng chứng ủng hộ hoặc phản đối việc dùng benzodiazepine để giảm nhẹ khó thở ở những người bị ung thư giai đoạn muộn hoặc COPD.[113]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi