Cách tiếp cận

Tiền sử

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khởi phát âm ỉ và thường xuất hiện ở người lớn tuổi. Tiền sử ho có đờm, thở khò khè, và khó thở, nhất là khi tập luyện, rất điển hình. Bệnh nhân có thể cảm thấy mệt mỏi do không ngủ được là thứ phát do thường xuyên ho vào ban đêm và giảm oxy máu dai dẳng cũng như tăng cacbon dioxyt huyết. Tiền sử hút thuốc, phơi nhiễm nghề nghiệm, và tiền sử gia đình mắc bệnh phổi của bệnh nhân nên được xác định.

Bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng có thể có biểu hiện khó thở cấp tính, nặng, sốt, và đau ngực trong các đợt nhiễm trùng cấp tính bùng phát

Khám lâm sàng

Thăm khám có thể cho thấy thở nhanh, suy hô hấp, sử dụng các cơ phụ, và co rút liên sườn. Thường thấy ngực hình thùng. Có thể có gõ vang lồng ngực, và tiếng thở nhỏ cũng như nghe thấy sự thông khí kém. Thở khò khè, ran âm thô, ngón tay dùi trống, và xanh tím, cũng như dấu hiệu suy tim phải (tĩnh mạch cổ nổi, tiếng P2 mạnh, gan phình to, phản hồi gan-tĩnh mạch, và phù nề chi dưới), có thể xuất hiện. Thỉnh thoảng bệnh nhân có thể biểu hiện chứng suy tư thế vận động - mất kiểm soát tư thế ở cánh tay duỗi ra (thường được biết là lòng thòng) do tăng cacbon dioxyt gây ra. Đó là do sự trao đổi khí bị suy giảm trong nhu mô phổi, trở nên tệ hơn khi tập luyện, và là gợi ý cho suy hô hấp.

Các xét nghiệm ban đầu, bệnh ổn định

Đo chức năng hô hấp là xét nghiệm đầu tiên để chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và để theo dõi tiến triển bệnh. Khi đo phế dung, quan sát thấy quy luật đặc trưng ở những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, với FEV1 và tỷ lệ FEV1/FVC giảm. Tiêu chuẩn của Sáng kiến về Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính toán cầu (GOLD) đã xác định giới hạn thông khí là FEV1/FVC sau điều trị với thuốc trị hen suyễn là <0,70.[1] Trong trường hợp khó có thể đo FVC, có thể sử dụng thể tích khí thở ra gắng sức trong 6 giây (FEV6).[21] Hiếm khi chẩn đoán bằng chụp x-quang ngực (CXR) nhưng có thể giúp loại trừ các chẩn đoán khác. Đầu đo bão hòa oxy qua da tầm soát tình trạng giảm oxy máu.

Ngoài giới hạn thông khí, hướng dẫn GOLD còn công nhận tầm quan trọng của các đợt bùng phát trong việc ảnh hưởng đến diênx biến tự nhiên bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, và nhấn mạnh việc đánh giá các triệu chứng, yếu tố nguy cơ dẫn đến đợt bùng phát, và các bệnh đồng mắc.[1]

Nên dùng Bảng câu hỏi của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh Quốc có sửa đổi (mMRC) hoặc Xét nghiệm đánh giá COPD (CAT) để đánh giá các triệu chứng. Có thể tìm thấy thông tin này trong hướng dẫn GOLD.[1]

Số lần điều trị đợt bùng phát trong quá khứ (2 lần trở lên một năm) là yếu tố dự đoán tốt nhất về nguy cơ xảy ra đợt bùng phát. Bên cạnh các đợt bùng phát trước đó, thông khí hạn chế <50% dự đoán các lần bệnh trở nặng.

Hướng dẫn của GOLD sử dụng phương pháp đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hỗn hợp để nhóm bệnh nhân theo các triệu chứng và tiền sử đợt bùng phát trước đây. Các triệu chứng được đánh giá bằng thang điểm mMRC hoặc CAT.

  • Nhóm A: nguy cơ thấp (0-1 đợt bùng phát một năm, không yêu cầu nhập viện) và một vài triệu chứng (mMRC 0-1 hoặc CAT <10)

  • Nhóm B: nguy cơ thấp (0-1 đợt bùng phát một năm, không yêu cầu nhập viện) và thêm nhiều triệu chứng (mMRC≥ 2 hoặc CAT≥ 10)

  • Nhóm C: nguy cơ cao (≥2 đợt bùng phát một năm, hoặc một hoặc nhiều lần yêu cầu nhập viện) và một vài triệu chứng (mMRC 0-1 hoặc CAT <10)

  • Nhóm D: nguy cơ cao (≥2 đợt bùng phát một năm, hoặc một hoặc nhiều lần yêu cầu nhập viện) và thêm nhiều triệu chứng (mMRC≥ 2 hoặc CAT≥ 10)

Xét nghiệm ban đầu, đợt bùng phát cấp

Bệnh nhân biểu hiện các triệu chứng cấp tính cần được thực hiện tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, ECG, chụp x quang ngực và đánh giá sự trao đổi khí (đo độ bão hòa oxy qua da và/hoặc phân tích khí máu động mạch).[1] Đo chức năng hô hâps không được khuyến nghị trong đơjt bùng phát cấp tính vì có thể khó thực hiện và không chính xác lắm.[1]

Các xét nghiệm khác

Ở ca bệnh trở nặng cấp tính, nên cho dùng kháng sinh theo kinh nghiệm nếu bệnh nhân có ba triệu chứng chính như sau: tăng khó thở, tăng lượng đờm và đờm có mủ; hoặc nếu bệnh nhân có hai trong số các triệu chứng này, nếu tăng mủ trong đờm là một trong hai triệu chứng đó; hoặc nếu bệnh nhân cần thở máy. Ở bệnh nhân thường bị các đợt cấp tính, hạn chế thông khí nặng và/hoặc trong các đợt cấp tính cần thở máy, cần gửi mẫu đờm đi nuôi cấy.[1]

Xét nghiệm chức năng phổi chi tiết được thực hiện trong các phòng thí nghiệm chuyên về chức năng phổi có thể đo khả năng khuếch tán carbon monoxide (DLCO) của phổi, thể tích dòng thở, và khả năng hít vào. Chúng không được sử dụng thường xuyên nhưng có thể giúp giải quyết các trường hợp chẩn đoán không chắc chắn và để đánh giá trước phẫu thuật.[1]

Ở những bệnh nhân trẻ tuổi (<45 tuổi) có tiền sử gia đình hoặc có bệnh tiến triển nhanh chóng và thay đổi thùy dưới trong xét nghiệm hình ảnh, cần kiểm tra nồng độ alpha-1 antitrypsin. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo tất cả bệnh nhân được chẩn đoán mắc COPD nên được sàng lọc một lần, đặc biệt ở những vùng có tỷ lệ lưu hành bệnh thiếu alpha-1 antitrypsin cao.[22] Điều này có thể giúp tầm soát và tư vấn cho gia đình.

Chụp cắt lớp vi tính cho thấy những thay đổi về giải phẫu, nhưng chỉ hữu ích khi chẩn đoán cho các bệnh nhân được xem xét phẫu thuật và để loại trừ các nguyên nhân gây bệnh khác.[1]

đo bão hòa oxy qua da sẽ được sử dụng để đánh giá tất cả các bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng suy hô hấp hoặc suy tim phải. Nếu độ bão hoà oxy động mạch ngoại vi dưới 92%, thì sẽ đo khí máu động mạch hoặc mao mạch.[1]

Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ liên quan đến việc tăng nguy cơ tử vong và nhập viện ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.[23]

Xét nghiệm khi tập luyện có thể giúp ích ở những bệnh nhân có mức độ khó thở không tương xứng.[24] Có thể thực hiện trên thảm chạy cơ lực kế hoặc xe đạp cơ lực kế, hoặc bằng một thử nghiệm đi bộ tính giờ đơn giản (ví dụ: 6 phút hoặc trong thời gian <6 phút).[25] Thử nghiệm khi tập luyện cũng được sử dụng khi chọn các bệnh nhân để phục hồi chức năng. Chức năng cơ hô hấp cũng có thể được xét nghiệm nếu tình trạng khó thở hoặc tăng cacbon dioxyt huyết tăng không tương xứng đối với FEV1, cũng như ở những bệnh nhân có chế độ dinh dưỡng kém và những người có bệnh cơ do corticosteroid.[26]


Hoạt ảnh minh họa cách chọc động mạch quayHoạt ảnh minh họa cách chọc động mạch quay

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi