Bệnh căn học

Cho đến lúc này, hút thuốc là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Các ca bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chiếm 40% đến 70% và gây ảnh hưởng bằng cách gây ra phản ứng viêm, rối loạn chức năng lông mao, và thương tổn oxy hóa. Ô nhiễm không khí và phơi nhiễm nghề nghiệp là các nguyên nhân gây bệnh phổ biến khác. Căng thẳng oxy hóa và mất cân bằng các proteinase và antiproteinase cũng là những yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhất là ở những bênh nhân thiếu alpha-1 antitrypsin, mắc chứng khí phế thũng thường xuất hiện từ trẻ.[1]

Sinh lý bệnh học

Dấu hiệu phân biệt bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là viêm mạn tính ảnh hưởng đến các đường thở trung tâm, đường thở ngoại vi, nhu mô phổi và phế nang, và hệ mạch phổi. Các thành phần chính của những thay đổi này là hẹp và tổ chức lại đường thở, số lượng tế bào biểu mô tăng, phì đại các tuyến dịch nhần-chất dịch của các đường thở trung tâm, và cuối cùng là những thay đổi mạch máu đệm theo sau, dẫn đến tăng áp phổi. Người ta cho rằng điều này dẫn đến những thay đổi bệnh lý, giúp xác định biểu hiện lâm sàng

Bằng chứng cho thấy rằng đáp ứng của vật chủ với các chất kích thích hít phải gây ra phản ứng viêm, làm thay đổi đường thở, phế nang và các mạch máu phổi. Các đại thực bào hoạt tính, bạch cầu trung tính và bạch cầu là những tế bào cốt lõi trong quy trình này. Ngược lại với hen suyễn, bạch cầu ái toan không có vai trò trong COPD, trừ trường hợp thỉnh thoảng gây đợt bệnh cấp tính trở nặng. Tuy nhiên, phân tích tổng hợp ở cấp độ bệnh nhân đã phát hiện ra rằng những bệnh nhân mắc COPD có lượng bạch cầu ái toan trong máu thấp hơn lại có nhiều biến cố viêm phổi hơn những người có lượng bạch cầu ái toan cao hơn.[10]

Trong khí phế thũng, là dưới nhóm của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hậu quả cuối cùng của phản ứng viêm là phá vỡ sự đàn hồi và phế nang tiếttkhông còn nguyên vẹn.[11] Trong viêm phế quản mạn tính, một kiểu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác, các thay đổi viêm này dẫn đến suy giảm chức năng lông chuyển và tăng kích thước cũng như số lượng tế bào biểu mô, từ đó làm tăng tiết dịch nhầy quá mức. Những thay đổi này làm giảm thông khí, tăng tiết dịch, và ho mạn tính. Trong cả hai tình trạng trên, những thay đổi này ngày càng tăng và thường không thể phục hồi.

Sức cản đường thở tăng là định nghĩa sinh lý của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Sự đàn hồi chun giãn thành mạch giảm, những thay đổi xơ hoá trong nhu mô phổi, và tắc nghẽn đường thở bởi các chất dịch góp phần làm tăng sức cản đường thở. Giới hạn lưu lượng thở ra thúc đẩy tình trạng tăng ứ khí. Ngoài sự phá hủy nhu mô phổi, những tình trạng này dẫn đến làm giảm oxy máu, nhất là trong khi tập luyện, ở các bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Giảm oxy máu tiến triển làm dày cơ trơn mạch máu kèm theo tăng áp phổi sau đó, làm tiên lượng bệnh kém.[12][13]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi