Tiên lượng

Biểu hiện lâm sàng của bệnh Ebola khác nhau đáng kể giữa các loài vi-rút khác nhau và mức độ chăm sóc y tế. Loài có khả năng gây chết người nhất là Zaire ebolavirus, có tỷ lệ tử vong trên quần thể bệnh nhân được báo cáo là lên tới 90%. Tỷ lệ tử vong trên quần thể bệnh nhân trung bình là khoảng 50% ở đa số các trung tâm điều trị trong đợt dịch năm 2014 ở Tây Phi, mặc dù các tỷ lệ đã thay đổi từ 25% đến 90% trong các đợt bùng phát khác trước đó.[2] Hầu hết các dịch bệnh xảy ra ở những môi trường có nguồn lực kém, ít có chăm sóc hỗ trợ; do đó, tỷ lệ tử vong ca bệnh ở các môi trường khác có thể <40%.[96]

Trẻ nhỏ (<5 tuổi) và người lớn trên 40 tuổi có tỷ lệ tử vong cao hơn so với trẻ vị thành niên và người lớn trẻ tuổi. Phụ nữ có tỷ lệ sống sót cao hơn một chút so với nam giới.[187] Tải lượng vi-rút cao, tổn thương thận cấp tính và ảnh hưởng thần kinh cũng là những yếu tố tiên lượng xấu.[18][6][20][21][22][82][83][95][122][123][124]

Một nghiên cứu quan sát từ một đợt bùng phát dịch vào năm 1995 cho thấy tỷ lệ tử vong ca bệnh giảm đáng kể từ 93% xuống còn 69% từ giai đoạn ban đầu đến giai đoạn cuối cùng của đợt bùng phát dịch.[188] Điều này cho thấy những ca bệnh sau này đã được phát hiện sớm hơn, và có thể nhận được chất lượng chăm sóc cao hơn.

Phụ nữ mang thai có tỷ lệ sảy thai cao, và tình trạng nhiễm bệnh thường gây tử vong ở những phụ nữ này.[21][142][143][144]

Đang chờ dữ liệu về tác động của nhiễm HIV lên tiên lượng. Một nghiên cứu cho thấy nhiễm vi-rút GB C, một pegivirus điều chỉnh miễn dịch hiện ở tỷ lệ lên đến 28% người Tây Phi, có liên quan đến tỷ lệ sống thêm cao hơn ở người mắc bệnh nhiễm vi-rút Ebola cấp tính.[189]

Diễn biến bệnh

Những bệnh nhân tử vong có xu hướng biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng sớm khi bị nhiễm, đồng thời tử vong thường do sốc và suy đa tạng, thường xảy ra giữa ngày 6 và ngày 16 trong thời gian bị bệnh.[6][13][14][15] Những bệnh nhân đã hồi phục chỉ có biểu hiện sốt trong vài ngày có cải thiện thường là từ ngày 6 đến ngày 11.[95]

Các yếu tố tiên lượng

Các nghiên cứu quan sát cho thấy các bệnh nhân tử vong có các biểu hiện nhiễm trùng tiến triển (ví dụ như mệt lả, suy giảm ý thức, hạ huyết áp, các dấu hiệu thần kinh) sớm hơn so với những bệnh nhân sống sót với ngày sống sót trung bình quan sát được là 9 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng.[6][13] Tổn thương thận cấp tính và tải lượng vi-rút cao hơn tương ứng với kết quả bất lợi và tỷ lệ tử vong tăng.[20][21][22][62][91][93] Các dấu ấn sinh học là yếu tố tiên lượng cần được nghiên cứu thêm.[13][76][95]

Hồi phục và khỏi bệnh

Bệnh nhân sống qua tuần thứ hai trong thời gian bị bệnh có >75% cơ hội sống sót.[16] Bệnh nhân thường được phép ra khỏi cơ sở cách ly khi họ đi lại được, tự chăm sóc bản thân, không còn các triệu chứng đáng kể (ví dụ tiêu chảy, nôn mửa, chảy máu), và có 2 kết quả phản ứng chuỗi polymerase sao chép ngược (RT-PCR) âm tính đối với vi-rút Ebola cách nhau 48 giờ.[91] Tình trạng nhân lên của vi-rút trong tinh dịch có thể tiếp tục diễn ra trong hơn một năm rưỡi sau khi hồi phục.[41][42][43][190][45][46][48][49][191][192] Có 62% nam giới phát hiện vi-rút này trong tinh dịch từ 4 đến 6 tháng sau nhiễm trùng cấp tính.[190] Một nghiên cứu khác cho thấy 63% nam giới có kết quả xét nghiệm dương tính với vi-rút trong tinh dịch tới 12 tháng hoặc lâu hơn sau khi hồi phục, với giai đoạn dài nhất là 565 ngày từ khi được phép ra khỏi đơn vị điều trị đến giai đoạn thu thập mẫu bệnh phẩm.[191] Cũng phát hiện vi-rút này trong tinh dịch lên đến 548 ngày sau khi khởi phát bệnh ở 5% nam giới.[192] Sự phát tán vi-rút Ebola trong tinh dịch có thể thành từng đợt; một nghiên cứu đã báo cáo sự tái xuất hiện RNA vi-rút Ebola trong tinh dịch của 30 bệnh nhân nam sau hai lần có kết quả xét nghiệm âm tính liên tiếp.[193] Các nghiên cứu về bộ gen tại Liberia đã xác nhận vi-rút lây truyền qua đường tình dục từ nam giới sang bạn tình.[47] Vi-rút Ebola cũng đã được phát hiện trong dịch âm đạo.[50] Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo rằng nam giới nên được xét nghiệm tinh dịch mỗi tháng một lần từ 3 tháng sau khi khởi phát triệu chứng, kiêng quan hệ tình dục hoặc sử dụng bao cao su cho đến khi hai lần xét nghiệm tinh dịch liên tiếp cách nhau 1 tháng cho kết quả âm tính (hoặc ít nhất 12 tháng sau khi hết triệu chứng).[44] Ngay cả trong trường hợp không có vi rút trong máu, nhưng cũng đã phát hiện vi-rút trong mồ hôi (cho đến ngày 40), nước tiểu (cho đến ngày 30), dịch kết mạc (cho đến ngày 22), phân (cho đến ngày 19), và sữa mẹ (cho đến ngày 17).[194]

Những bệnh nhân sống sót thường có thời gian hồi phục kéo dài điển hình là đau khớp (76% đến 77%), mệt mỏi (69%), các triệu chứng ở mắt (14% đến 60%), đau đầu (48% đến 54%), đau bụng (54%), thiếu máu (50%), rối loạn da (49%) và triệu chứng thính giác (24%).[195][196][197]Một nghiên cứu tiến cứu theo thời gian so sánh những người sống sót có kháng thể kháng vi-rút Ebola với những người tiếp xúc gần không có kháng thể (nhóm chứng) trong thời gian 12 tháng đã phát hiện ra rằng có sáu triệu chứng thường gặp ở những người sống sót so với những người trong nhóm chứng: đi tiểu thường xuyên (14,7% so với 3,4%); đau đầu (47,6% so với 35,6%); mệt mỏi (18,4% so với 6,3%); đau cơ (23,1% so với 10,1%); giảm trí nhớ (29,2% so với 4,8%); và đau khớp (47,5% so với 17,5%). Nhiều người sống sót cũng có các biểu hiện bất thường ở ngực, bụng, thần kinh và cơ xương.[198]

Các biểu hiện muộn trong quá trình hồi phục có thể bao gồm viêm tinh hoàn, viêm tủy, viêm tuyến mang tai, viêm tụy, viêm gan và rối loạn tâm thần.[17] Những người sống sót cũng có nguy cơ bị viêm màng bồ đào (trước, sau hoặc lan tỏa), có thể dẫn đến các biến chứng cấu trúc thứ phát, suy giảm thị lực hoặc mù lòa.[199] Một nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang, không đối chứng cho thấy khoảng 28% người sống sót có biểu hiện viêm màng bồ đào liên quan đến vi-rút Ebola, và 3% người sống sót mắc bệnh thần kinh thị giác liên quan đến vi-rút Ebola. Ở những bệnh nhân mắc viêm màng bồ đào, 38,5% bệnh nhân được phát hiện bị mù (thị lực >20/400).[200] Một người sống sót đã bị viêm màng bồ đào cấp tính với phát hiện vi-rút Ebola có thể tồn tại 14 tuần sau khi khởi phát bệnh và 9 tuần sau khi đào thải hết vi-rút khỏi máu.[201][202] Tình trạng đục thủy tinh thể trắng một bên và tổn thương võng mạc mới xuất hiện sau khi phân bố giải phẫu các sợi trục thần kinh thị giác cũng đã được báo cáo.[203] Nguyên nhân của các biểu hiện này không rõ ràng nhưng có thể liên quan đến hiện tượng miễn dịch phức tạp hoặc sự tồn tại dai dẳng của vi-rút Ebola ở các địa điểm có tính miễn dịch cao. Khuyến cáo nên kiểm tra thường xuyên những người sống sót trong ít nhất 18 tháng sau khi hồi phục.[192]

Có khả năng những người sống sót sau khi bị nhiễm sẽ được miễn dịch suốt đời với cùng chủng vi-rút Ebola. Do đó, những bệnh nhân đã hồi phục có vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân đang bị bệnh. Tuy nhiên, hiểu biết của chúng tôi về nhiễm vi-rút lâu dài tại những nơi cư trú vẫn còn chưa đầy đủ. Một nhân viên y tế ở nước ngoài có biểu hiện viêm não-màng não do vi-rút Ebola (RT-PCR trong dịch não tuỷ và huyết tương dương tính với vi-rút Ebola) 9 tháng sau khi hồi phục do nhiễm vi-rút Ebola tiên phát nặng vào năm 2015.[204] Xuất hiện một ca bệnh viêm não và viêm đa khớp khởi phát muộn,[205] vì thời gian lây bệnh có thể kéo dài hơn 1 năm sau hồi phục ở những bệnh nhân còn sống.[206] Khả năng nhiễm vi-rút kéo dài và sự xuất hiện trở lại muộn của các triệu chứng lâm sàng có thể sẽ làm thay đổi cách tiếp cận dịch tễ và lâm sàng đối với những người sống sót mắc bệnh sau đó. Theo lý thuyết, đây cũng là mối quan ngại về việc kiểm soát phụ nữ mang thai ngay khi hồi phục sau nhiễm Ebola cấp tính.

Những người sống sót và trẻ mồ côi của những người đã tử vong phải chịu sự kỳ thị và tẩy chay ở nhiều cộng đồng. Điều này có thể liên quan đến các vấn đề tâm lý.[207][208]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi