Tiền sử và khám

Các yếu tố chẩn đoán chính

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm: sinh sống, làm việc hoặc đến từ vùng lưu hành dịch trong vòng 21 ngày trước đó; tiếp xúc với dịch tiết cơ thể của người bị bệnh; phơi nhiễm nghề nghiệp; hoặc giết mổ/tiêu thụ thịt từ động vật bị bệnh (hoặc có khả năng bị bệnh).

Sự lây truyền từ người sang người xảy ra khi tiếp xúc với dịch tiết cơ thể (ví dụ: mồ hôi, máu, phân, chất nôn, nước bọt, dịch tiết sinh dục [bao gồm tinh dịch], và sữa mẹ) từ người nhiễm bệnh.[36][41] Nồng độ vi-rút trong các chất dịch này rất cao ở những bệnh nhân nặng. Thời kỳ ủ bệnh là từ 2 đến 21 ngày (thường từ 3-12 ngày).[2] Thời kỳ ủ bệnh ở trẻ em có thể ngắn hơn.[3]

Những người tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm bệnh (bao gồm cả nhân viên y tế và thành viên trong gia đình) có nguy cơ bị nhiễm bệnh nếu người đó tiếp xúc với chất dịch cơ thể của bệnh nhân bị bệnh mà không có thiết bị bảo vệ thích hợp. Tiếp xúc với các thành viên của gia đình bệnh nhân có nguy cơ lây nhiễm cao hơn nếu đang bị bệnh tiêu chảy, nôn, hoặc xuất huyết.[36]

Các dịch tiết cơ thể thậm chí vẫn còn có thể gây nhiễm bệnh sau khi bệnh nhân đã tử vong. Kết quả là, nhiều trường hợp bị bệnh xảy ra tại các những nơi tổ chức dịch vụ tang lễ truyền thống ở châu Phi, nơi những người đến viếng chạm vào xác của người chết. Các sự kiện tổ chức rộng khắp trong cộng đồng ngày càng được ghi nhận là một yếu tố đóng góp: một đám tang của lang y ở Sierra Leone vào năm 2015 có liên quan đến 300 ca bệnh.[39] Trong một nghiên cứu, người ta phát hiện ra rằng các siêu tác nhân lây lan là nguyên nhân gây ra khoảng 61% số ca nhiễm trong đợt bùng phát dịch năm 2014.[40]

Những người đi đến các vùng lưu hành dịch được coi là có nguy cơ nhiễm khuẩn cao. Kiến thức cập nhật về các vùng địa lý hiện đang lưu hành dịch giúp làm rõ nguy cơ dịch tễ học của bệnh nhân.

Khoảng 90% bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng, và thường sốt >39,0°C theo kiểu giảm dần.[18][86] Một số bệnh nhân ban đầu chỉ có triệu chứng sốt nhẹ, hoặc nhiệt độ có thể gần mức bình thường ở lần thăm khám đầu tiên.[88]

Các quốc gia và các hướng dẫn sử dụng ngưỡng nhiệt độ sốt khác nhau, và việc sử dụng ngưỡng nhiệt độ thấp hơn (ví dụ: ≥37,5°C) làm tăng độ nhạy trong việc phát hiện các ca bệnh.[86][89]Tổ chức Y tế Thế giới sử dụng ngưỡng >38°C.[90]Tuy nhiên, trong một nghiên cứu thuần tập lớn ở Sierra Leone, <30% số bệnh nhân bị sốt ≥38°C khi thăm khám, mặc dù 89% bệnh nhân có sốt trong phần bệnh sử.[22]Một nghiên cứu khác tại Sierra Leone cho thấy 25% trẻ em không có sốt trong bệnh sử hoặc không có nhiệt độ ≥38°C lúc nhập viện.[85]

Được báo cáo ở 87% đến 89% số bệnh nhân trong đợt dịch bùng phát năm 2014.[18][22]

Các biểu hiện đủ để gây ra mối quan ngại về nhiễm bệnh trong bối cảnh dịch tễ thích hợp.

Có thể có sự dao động lớn về thân nhiệt trong suốt quá trình bị bệnh, đặc biệt là ở trẻ em.[85][87]Bệnh nhân thường có thân nhiệt bình thường hoặc hạ thân nhiệt trong giai đoạn sau của bệnh gây tử vong.[16][17][82]

Đặc điểm thường gặp khi nhiễm bệnh, xuất hiện ở 80% số bệnh nhân trong các đợt bùng phát trước đó.[9][17]

Được báo cáo ở 22% đến 38% số bệnh nhân trong đợt dịch bùng phát năm 2014. Thường gặp tăng creatine kinase là thường gặp (36% đến 83%).[18][19][76][79][80]

Có thể liên quan đến đau khớp và kéo dài cho đến khi hồi phục.

Dấu hiệu nhiễm bệnh sớm ở khoảng 40% số ca bệnh được khẳng định bằng xét nghiệm trong một số đợt bùng phát.[17][82][107]

Các yếu tố chẩn đoán khác

Mệt mỏi nhiều và ngủ gà là đặc điểm thường gặp lên tới 90% số ca bệnh trong đợt bùng phát trước đó.[17][82]

Được báo cáo ở 76% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18]

Đặc điểm thường gặp khi nhiễm bệnh, biểu hiện ở 88% số bệnh nhân trong một đợt bùng phát trước.[17]

Được báo cáo ở 65% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18]

Có thể có xuất huyết

Giường nằm dành cho bệnh nhân mắc bệnh tả có thể được sử dụng cho các ca bệnh tiêu chảy nặng ở các nước kém phát triển.com.bmj.content.model.Caption@755e98a5[Figure caption and citation for the preceding image starts]: Giường dành cho bệnh nhân mắc bệnh tả có lỗ ở giữa để kiểm soát những bệnh nhân bị tiêu chảy ồ ạt tại trung tâm điều trị Ebola ở Tây Phi, 2014Từ bộ sưu tập cá nhân của Catherine F. Houlihan, MSc, MB ChB, MRCP, DTMH; đã được cho phép sử dụng [Citation ends].

Đặc điểm thường gặp khi nhiễm bệnh, xuất hiện ở 65% đến 70% số bệnh nhân ở các đợt bùng phát trước.[9][17]

Triệu chứng nôn được báo cáo ở 67% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18]

Có thể nôn ra máu.

Đặc điểm không đặc hiệu ở giai đoạn đầu của bệnh, xuất hiện ở 10% đến 70% số bệnh nhân ở các đợt bùng phát trước.[17][82]

Được báo cáo ở 53% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18]

Hiếm gặp hội chứng màng não.

Được báo cáo ở 44% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18]

Có thể khó phân biệt được ợ nóng với đau thắt dưới ngực trước hoặc khó nuốt. Chứng khó nuốt và ợ nóng có thể là do viêm thực quản.

Đau ngực và ho được báo cáo ở 10% và 7% số bệnh nhân tương ứng trong đợt bùng phát năm 2014;[19] tuy nhiên, tổn thương trực tiếp tại phổi hiếm khi được báo cáo.[78]

Khó thở được báo cáo ở 20% đến 23% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18][19]

Các triệu chứng hô hấp thường gặp hơn ở trẻ em so với người lớn; tuy nhiên, dữ liệu để chứng minh điều này còn hạn chế.[82][83]Có 14% trẻ em có khó thở trong đợt bùng phát năm 2014.[85]

Viêm họng là triệu chứng không đặc hiệu, xuất hiện ở 10% đến 58% số bệnh nhân ở các đợt bùng phát trước.[17][82]

Được báo cáo ở 9% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[19]

Có thể gây ra khó nuốt, được báo cáo ở 26% đến 32% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18][19]

Mệt lả nhiều là một dấu hiệu điển hình được báo cáo ở 73% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[80]

Xuất hiện ở 31% số ca bệnh tử vong trong đợt bùng phát trước và không thấy ở bất kỳ người sống sót nào.[16][17]

Được báo cáo ở 5% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[80]

Có thể có toan chuyển hoá do urê huyết và giảm tưới máu.

Xuất hiện sớm trong thời gian mắc bệnh ở khoảng 25% đến 52% bệnh nhân trong các đợt bùng phát trước.[16]

Được báo cáo bởi 1% đến 5% số bệnh nhân trong đợt dịch bùng phát năm 2014.[18][19][80]

Thường được mô tả là ban đỏ, dát sẩn và không ngứa. Có thể bắt đầu xuất hiện cục bộ, sau đó khuếch tán, lan rộng và suy biến. Một số bệnh nhân đã mô tả triệu chứng này như là một ban dạng sởi. Có thể trở nên ngứa hoặc có chấm xuất huyết sau này ở những bệnh nhân có rối loạn đông máu.[23]

Có thể khó phân biệt được ở bệnh nhân da sẫm màu.

Sự xuất hiện của triệu chứng này cho thấy nhiễm trùng tiến triển và sự xuất hiện của đông máu nội mạch rải rác.

Các triệu chứng xuất huyết (ví dụ: chảy máu cam, chảy máu chân răng, ho ra máu, dễ bầm tím, xuất huyết kết mạc, đái máu, chảy máu ở các vị trí tiêm hoặc tiêm tĩnh mạch) xuất hiện ở 30% đến 36% số bệnh nhân mắc bệnh trong các đợt bùng phát trước đó;[11][16][17] tuy nhiên, triệu chứng này chỉ được báo cáo ở 5% đến 18% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18][19][20][21][22]

Thường chỉ quan sát thấy chảy máu trầm trọng trong các ca bệnh tử vong, và thường xảy ra ở đường tiêu hóa (ví dụ như đi ngoài phân đen, phân có máu).[16] Trong đợt bùng phát trước đó, phân đen xuất hiện ở 8% số ca tử vong và 16% số người sống sót.[17]

Có thể không phát hiện chảy máu bên trong nếu không có triệu chứng thực thể bên ngoài.

Biểu hiện chảy máu ít gặp hơn ở trẻ em.[84]

Trong đợt bùng phát trước đây, gan to, ấn tức, sờ mép gan mấp bé bờ sườn xuất hiện ở 2% số ca tử vong và 8% số bệnh nhân sống sót.[17]

Hạch to cũng được báo cáo.[16]

Dấu hiệu của nhiễm trùng tiến triển và tiên lượng xấu, thường thấy trong 2 đến 3 ngày cuối cùng của bệnh và gây tử vong.[16]

Có thể là do urê huyết, hạ kali máu, hạ natri máu, hạ canxi máu hoặc hạ cacbon đioxit máu do phải bù trừ hô hấp vì nhiễm toan chuyển hoá.

Trong đợt bùng phát trước đó, nấc cụt xảy ra ở 17% số ca bệnh tử vong và 5% số người sống sót.[17]

Được báo cáo ở 11% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18][80]

Ít gặp hơn ở trẻ em.[84][85]

Có thể thấy ở các giai đoạn sau của bệnh gây tử vong.[16]

Đặc điểm của bệnh trước khi tử vong và sốc. Đặc điểm này chưa được chứng minh trong các nghiên cứu thực địa do thiếu thiết bị đo ở các vùng lưu hành dịch.[16]

Tuy nhiên, sốc nhiễm trùng có thoát mạch và suy giảm vi tuần hoàn không phải là một đặc điểm chính của bệnh.

Lú lẫn được báo cáo ở 19% bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014. Triệu chứng này có vẻ thường gặp hơn so với các đợt bùng phát trước đó và là một yếu tố dự đoán tử vong.[87][85][80]Trẻ bị lú lẫn có thể do nhiều yếu tố và có tiên lượng kém nếu có lú lẫn.[85][87]

Thường đi kèm cả chảy máu và hạ huyết áp khiến cho việc bù dịch trở nên khó khăn và nguy hiểm.

Bệnh não có thể liên quan đến rối loạn điện giải, urê huyết, và giảm tưới máu não trong nhiễm bệnh giai đoạn cuối.

Co giật xảy ra ở 2% số ca tử vong trong một đợt bùng phát trước đó.[17]

Các yếu tố nguy cơ

Những người sống hoặc làm việc ở các vùng lưu hành dịch (ví dụ: Tây Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo) có nguy cơ mắc bệnh cao. Tuy nhiên, những người mới trở về từ các vùng lưu hành dịch cũng là một nguồn lây đáng kể. Hầu hết các bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ở các nước phát triển thường là khách du lịch trở về từ vùng dịch và nhân viên y tế chăm sóc các bệnh nhân trong các đợt bùng phát.

Kiến thức cập nhật về các vùng địa lý hiện đang lưu hành dịch giúp làm rõ nguy cơ dịch tễ học của bệnh nhân.

Sự lây truyền từ người sang người xảy ra khi tiếp xúc với dịch tiết cơ thể (ví dụ: mồ hôi, máu, phân, chất nôn, nước bọt, dịch tiết sinh dục [bao gồm tinh dịch], và sữa mẹ) từ người nhiễm bệnh.[36][41] Nồng độ vi-rút trong các chất dịch này rất cao ở những bệnh nhân nặng. Thời kỳ ủ bệnh là từ 2 đến 21 ngày (thường từ 3-12 ngày).[2] Thời kỳ ủ bệnh ở trẻ em có thể ngắn hơn.[3]

Những người tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm bệnh (bao gồm cả nhân viên y tế và thành viên trong gia đình) có nguy cơ bị nhiễm bệnh nếu người đó tiếp xúc với chất dịch cơ thể của bệnh nhân bị bệnh mà không có thiết bị bảo vệ thích hợp. Tiếp xúc với các thành viên của gia đình bệnh nhân có nguy cơ lây nhiễm cao hơn nếu đang bị bệnh tiêu chảy, nôn, hoặc xuất huyết.[36]

Dịch tiết cơ thể thậm chí vẫn còn có thể lây truyền vi-rút gây bệnh sau khi bệnh nhân đã tử vong. Kết quả là, nhiều ca nhiễm bệnh xảy ra tại các cơ sở dịch vụ tang lễ truyền thống ở châu Phi, nơi những người đến viếng chạm vào xác của người chết.[67] Các sự kiện tổ chức rộng khắp trong cộng đồng cũng ngày càng được ghi nhận là một yếu tố góp phần lây nhiễm: một đám tang của lang y ở Sierra Leone vào năm 2015 có liên quan đến 300 ca bệnh.[39] Trong một nghiên cứu, người ta phát hiện ra rằng các siêu tác nhân lây lan là nguyên nhân gây ra khoảng 61% số ca nhiễm trong đợt bùng phát dịch năm 2014.[40]

Sự lây truyền qua đường tình dục đã được ghi nhận trong suốt thời gian bệnh hoạt động. Vẫn có thể phát hiện vi-rút trong tinh dịch trong hơn 12 tháng sau khi khỏi bệnh, có thể do mô tinh hoàn là một nơi có đặc quyền miễn dịch (chấp nhận kháng nguyên mà không giải phóng các đáp ứng viêm nhằm giảm thiểu tác động hủy hoại mô do miễn dịch).[44] Điều này có nghĩa là lây truyền qua đường tình dục có thể kéo dài sau khi khỏi bệnh,[41][42][43][45][46] và những trường hợp này đã được xác nhận trong đợt bùng phát năm 2014.[47][48][49]

Nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân mắc bệnh có nguy cơ bị nhiễm cao và hầu hết các dịch bệnh đều dẫn đến nhiều trường hợp nhiễm bệnh cho các nhân viên y tế.

Các vết thương do kim đâm từ người hiến tạng bị nhiễm bệnh có nguy cơ rất cao tùy thuộc vào dịch tiêm và bản chất của vết thương. Sử dụng kim tiêm không tiệt trùng đã gây ra sự lây lan trong bệnh viện của đợt dịch bệnh đầu tiên vào năm 1976.[24] Vô tình tiếp xúc với kim tiêm xảy ra ở các phòng thí nghiệm ở Anh, Nga và Đức. Thời kỳ ủ bệnh trong những ca bệnh như vậy có thể ngắn hơn đáng kể so với đường lây từ người sang người.[10][17][42]

Các nghề nghiệp khác có nguy cơ cao bao gồm những người làm việc với động vật linh trưởng hoặc dơi từ các vùng lưu hành dịch hoặc các mẫu bệnh phẩm có nguy cơ cao.

Đường lây truyền này có thể là nguyên nhân lây truyền từ động vật sang người trong các đợt dịch bệnh lẻ tẻ.[68]

Vi-rút Ebola từ lâu đã được coi là một vũ khí khủng bố sinh học tiềm năng do tỷ lệ tử vong ca bệnh của vi-rút này cao và dễ lây truyền từ người sang người. Tuy nhiên, mặc dù nó có tiềm năng như vậy nhưng không có bằng chứng nào cho thấy vi-rút Ebola đã được sử dụng như một vũ khí.[69]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi