Cách tiếp cận

Nhiễm vi-rút Ebola là bệnh cần khai báo. Việc chẩn đoán xác định ca bệnh nhiễm vi-rút Ebola khá rộng và bao gồm một danh sách dài các chẩn đoán phân biệt có thể thực hiện.

Đánh giá ban đầu đối với một bệnh nhân nghi ngờ nhiễm vi-rút Ebola xoay quanh 2 yếu tố chính:

  • Nguy cơ dịch tễ học (ví dụ như sống hoặc làm việc, hoặc đi đến, vùng lưu hành dịch bệnh trong 21 ngày trước đó); và

  • Đã hoặc đang sốt trong 24 giờ qua.

Cách ly và sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE)

Cần đánh giá nguy cơ kiểm soát nhiễm khuẩn. Sau khi xác định rằng bệnh nhân có thể bị nhiễm bệnh, bác sĩ cần xác định mức độ nhiễm khuẩn hiện tại của bệnh nhân. Ví dụ, không có biểu hiện nôn/tiêu chảy làm giảm nguy cơ; tuy nhiên, tiêu chảy không kiểm soát sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ lây nhiễm.

Khi một bệnh nhân có triệu chứng có thể có nguy cơ nhiễm bệnh thì bắt buộc phải thực hiện các thủ tục cách ly phòng ngừa và sử dụng PPE cho đến khi tình trạng nhiễm được khẳng định hoặc loại trừ. Điều này vô cùng quan trọng nhằm giảm thiểu nguy cơ lây truyền trong khi chăm sóc bệnh nhân.[73][74]

Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống Dịch bệnh (CDC) đã có hướng dẫn chi tiết về PPE:

CDC và WHO cũng đưa ra hướng dẫn chi tiết về kiểm soát nhiễm trùng cho nhân viên y tế ở Tây Phi:

Tiền sử

Khai thác tiền sử chi tiết giúp làm rõ mức độ nguy cơ đối với nhiễm vi-rút Ebola, cũng như đánh giá khả năng của các nguyên nhân khác gây ra hội chứng sốt cấp tính.

Những người sống hoặc làm việc ở các vùng lưu hành dịch (ví dụ: Tây Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo) có nguy cơ mắc bệnh cao. Tuy nhiên, những người mới trở về từ các vùng lưu hành dịch cũng là một nguồn lây đáng kể.

Hầu hết các bệnh nhân nghi ngờ bị nhiễm bệnh ở các nước phát triển thường là khách du lịch trở về và nhân viên y tế đã chăm sóc các bệnh nhân trong các đợt bùng phát. Do đó, toàn bộ quá trình đi lại là thông tin cực kỳ quan trọng. Tiền sử vừa mới trở về từ vùng lưu hành dịch là thông tin quan trọng. Kiến thức cập nhật về các vùng địa lý hiện đang lưu hành dịch giúp làm rõ nguy cơ dịch tễ học của bệnh nhân.

Ngoài các nhân viên y tế, các nghề nghiệp khác có nguy cơ cao bao gồm những người làm việc với động vật linh trưởng hoặc dơi từ các vùng lưu hành dịch hoặc các mẫu bệnh phẩm lâm sàng có nguy cơ cao.

Vì bệnh sốt rét vẫn là nguyên nhân gây sốt thường gặp nhất ở các khách du lịch trở về từ Tây Phi, nên cần phải đánh giá các yếu tố nguy cơ gây bệnh sốt rét (ví dụ như sống/làm việc, hoặc đi đến khu vực lưu hành dịch bệnh; không đủ hoặc không có thuốc điều trị dự phòng; không sử dụng chất diệt côn trùng hoặc mùng/màn).[75] Tuy nhiên, đồng nhiễm sốt rét đã xảy ra ở 5% bệnh nhân ở Tây Phi trong đợt dịch năm 2014, do đó cần cân nhắc khả năng nhiễm kép ở tất cả các bệnh nhân.[76]

Nguy cơ phơi nhiễm

Những người tiếp xúc với bệnh nhân (bao gồm cả nhân viên y tế và thành viên trong gia đình) có nguy cơ nhiễm bệnh nếu người đó tiếp xúc với các dịch cơ thể của bệnh nhân mà không có đồ bảo vệ thích hợp. Thời kỳ ủ bệnh là từ 2 đến 21 ngày (thường từ 3-12 ngày).[2] Thời kỳ ủ bệnh ở trẻ em có thể ngắn hơn.[3] Các tương tác thoáng qua, chẳng hạn như đi ngang qua một người hoặc đi qua bệnh viện, không được xem là tiếp xúc gần.

Việc tiếp xúc được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là một người nào đó đã:[77]

  • Ngủ trong cùng một nhà với bệnh nhân

  • Tiếp xúc vật lý trực tiếp với bệnh nhân trong thời gian bị bệnh hoặc tại tang lễ

  • Chạm vào dịch tiết cơ thể hoặc quần áo/khăn trải giường của bệnh nhân trong thời gian bệnh nhân bị bệnh

  • Được bệnh nhân cho bú (trẻ nhỏ).

Định nghĩa ca bệnh

Các định nghĩa ca bệnh được cập nhật thường xuyên và khác nhau tùy thuộc vào tổ chức. Dưới đây là các định nghĩa ca bệnh của WHO và CDC:

Các triệu chứng

Bệnh nhân không được coi là bị nhiễm bệnh cho đến khi xuất hiện các triệu chứng. Biểu hiện ban đầu không đặc hiệu, khiến cho việc chẩn đoán sớm trên lâm sàng gặp khó khăn; tuy nhiên, các triệu chứng điển hình bao gồm:[5]

  • Sốt

  • mệt mỏi

  • buồn nôn/ nôn

  • Tiêu chảy

  • Đau đầu

  • Đau bụng

  • Đau cơ

  • Mệt lả

  • Đau họng

  • Chảy máu hoặc bầm tím không rõ nguyên nhân.

Các triệu chứng hay gặp nhất được báo cáo từ giai đoạn khởi phát triệu chứng đến giai đoạn phát hiện ca bệnh trong đợt bùng phát dịch năm 2014 bao gồm: sốt (87,1% đến 89%), mệt mỏi (76,4%), chán ăn (64,5%), nôn mửa (67,6%), tiêu chảy 65,6%), đau đầu (53,4%), đau bụng (44,3%) và chảy máu không rõ nguyên nhân (18%).[18][22] Các triệu chứng như đau ngực (10%), ho (7%) và đau họng (9%) cũng đã được báo cáo,[19] nhưng tổn thương trực tiếp ở phổi hiếm khi được báo cáo.[78] Chứng đau cơ cũng đã được báo cáo (22%) và, trong các cơ sở có thể đo lường được thì thường thấy tăng creatine kinase (36% đến 83%).[19][76][79][80]

Ba giai đoạn của bệnh thường được ghi nhận, bắt đầu với một vài ngày sốt, đau đầu và đau cơ không đặc hiệu, và sau đó là giai đoạn xuất hiện các triệu chứng của đường tiêu hóa trong đó nổi bật là tiêu chảy, nôn, triệu chứng vùng bụng và mất nước.[55] Trong tuần thứ hai, bệnh nhân có thể hồi phục, hoặc xấu đi với giai đoạn thứ ba của bệnh bao gồm bất tỉnh, các biểu hiện thần kinh và xuất huyết. Giai đoạn này thường gây tử vong.[18]

Dữ liệu từ đợt bùng phát năm 2014 cho thấy trẻ em ít bị ảnh hưởng; tuy nhiên, điều này có thể bị nhầm lẫn bởi tỷ lệ tử vong cao trước khi có một ca bệnh được ghi nhận, hoặc các yếu tố nhiễu do nhân viên y tế.[81] Trẻ em có các biểu hiện tương tự như người lớn; tuy nhiên, trong các đợt bùng phát dịch trước đây, trẻ nhỏ được báo cáo có nhiều triệu chứng về hô hấp (ví dụ ho, khó thở) và các triệu chứng về đường tiêu hóa hơn, nhưng ít có các dấu hiệu xuất huyết và thần kinh hơn so với người lớn.[82] Không có nhiều dữ liệu về nhóm bệnh nhân này trong đợt bùng phát dịch năm 2014.[82][83] Một nghiên cứu thuần tập trên 282 bệnh nhi ở Sierra Leone cho kết quả: nôn (60%), đau bụng (59%), tiêu chảy (45%), và viêm kết mạc (38%) là các triệu chứng thường gặp, trong khi đó nấc (5%) và xuất huyết (2%) là các triệu chứng hiếm gặp.[84] Một nghiên cứu khác tại Sierra Leone cho thấy ốm yếu, sốt và kiệt sức có ở hơn 63% trẻ em, đồng thời tình trạng chán ăn, tiêu chảy và ho xuất hiện ở hơn 50%. Khoảng 25% trẻ trong số này không bị sốt lúc nhập viện.[85]

Theo kinh nghiệm, trẻ em dưới 4 tuổi ban đầu có nhiều triệu chứng khó phát hiện ra trước khi sốt, và thường được chẩn đoán muộn hơn trong thời gian bị bệnh.

Khám lâm sàng

Cần tiến hành khám lâm sàng toàn diện với mục đích loại trừ việc tập trung vào nhiễm trùng huyết đồng thời tìm kiếm các dấu hiệu của sốt xuất huyết do vi-rút (ví dụ: xung huyết kết mạc, phát ban đỏ hoặc các dấu hiệu chảy máu khác).

Cần xem xét các dấu hiệu sinh tồn:

  • Sốt: triệu chứng xuất hiện ở khoảng 90% số bệnh nhân,[18][22][86] cần nghi ngờ mắc bệnh nếu có sốt và có yếu tố dịch tễ phù hợp. Mặc dù sốt là triệu chứng chính, tuy nhiên lại thường gặp bệnh nhân có nhiệt độ bình thường tại thời điểm thăm khám. Có thể có sự dao động lớn về thân nhiệt trong suốt quá trình bị bệnh, đặc biệt là ở trẻ em,[85][87]trong đó ghi nhận thân nhiệt bình thường hoặc hạ thân nhiệt trong các giai đoạn sau của các ca tử vong.[16][17][82] Một số bệnh nhân ban đầu chỉ có triệu chứng sốt nhẹ, hoặc nhiệt độ có thể gần mức bình thường ở lần thăm khám đầu tiên.[88] Các quốc gia và các hướng dẫn sử dụng ngưỡng nhiệt độ sốt khác nhau, và việc sử dụng ngưỡng nhiệt độ thấp hơn (ví dụ: ≥37,5°C) làm tăng độ nhạy trong việc phát hiện các ca bệnh.[86][89]Tổ chức Y tế Thế giới sử dụng ngưỡng >38°C.[90]Tuy nhiên, trong một nghiên cứu thuần tập lớn ở Sierra Leone, <30% số bệnh nhân bị sốt ≥38°C khi thăm khám, mặc dù 89% bệnh nhân có sốt trong phần bệnh sử.[22]

  • Huyết áp: huyết áp thấp là một đặc điểm cho thấy bệnh nặng và sốc. Điều này chưa được ghi nhận trong các nghiên cứu thực địa, do thiếu thiết bị đo đạc ở các vùng lưu hành dịch.[16] Tuy nhiên, sốc nhiễm trùng có thoát mạch và suy giảm vi tuần hoàn không phải là một đặc điểm chính của bệnh.

  • Nhịp tim: nhịp tim chậm có thể xuất hiện trong các giai đoạn đầu của bệnh; tuy nhiên, nhịp nhanh có thể xuất hiện trong giai đoạn muộn của nhiễm trùng nặng.[16]

  • Nhịp thở: nhịp thở nhanh, cùng với nhịp tim nhanh có liên quan tới nhiễm trùng nặng hơn hoặc tiến triển, và nó giống như sự bù trừ hô hấp trong nhiễm toan chuyển hóa hơn là vấn đề về hô hấp.[16] Tuy nhiên, tổn thương hô hấp đã từng được mô tả.[78]

Các triệu chứng khác có thể bao gồm:[16]

  • Phát ban dát sẩn: xuất hiện sớm trong thời gian bị bệnh ở khoảng 25% đến 52% số bệnh nhân,[16] mặc dù tỷ lệ xuất hiện thấp hơn nhiều (1% đến 5%) trong đợt bùng phát dịch năm 2014.[18][19][80] Triệu chứng thường được mô tả là ban đỏ và dát sẩn, không ngứa. Nó có thể bắt đầu xuất hiện cục bộ, sau đó lan toả và hợp lại. Một số người đã mô tả triệu chứng này giống như ban dạng sởi. Về sau nó có thể trở thành ban hoặc chấm xuất huyết ở những bệnh nhân có rối loạn đông máu.[23] Có thể khó phân biệt được ở bệnh nhân da sẫm màu.

  • Xuất huyết: các biểu hiện xuất huyết (ví dụ: chảy máu cam, chảy máu lợi, ho ra máu, dễ bầm tím, xuất huyết kết mạc, đái máu, chảy máu ở các vị trí tiêm hoặc tiêm tĩnh mạch) xuất hiện ở 30% đến 36% số bệnh nhân nhiễm bệnh trong các đợt bùng phát trước đó;[11][16][17] tuy nhiên, triệu chứng này chỉ được báo cáo ở 5% đến 18% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014.[18][19][20][21][22] Triệu chứng này ít gặp hơn ở trẻ em.[84]

  • Nấc cục: dấu hiệu của nhiễm trùng tiến triển, thường thấy trong 2 đến 3 ngày cuối cùng của nhiễm bệnh gây tử vong. Ít gặp hơn ở trẻ em.[84][85]

  • Gan to: gan to, đau tức khi ấn, đã có báo cáo có thể sờ thấy mép gan dưới bờ sườn nhưng không phổ biến.

  • Hạch to: đã có báo cáo các hạch bạch huyết to, nhưng không phổ biến.

  • Các dấu hiệu thần kinh: suy giảm ý thức, bệnh não và co giật rất hiếm gặp, nhưng nếu có chứng tỏ có nhiễm trùng tiến triển. Lú lẫn là dấu hiệu phổ biến hơn trong đợt bùng phát năm 2014.[80]Trẻ bị lú lẫn có thể do nhiều yếu tố và có tiên lượng kém nếu có lú lẫn.[85][87]

Các xét nghiệm ban đầu

Cần thu thập tất cả các mẫu bệnh phẩm theo các quy trình nghiêm ngặt. WHO và CDC đã công bố hướng dẫn về vấn đề này:

Xét nghiệm chính khẳng định nhiễm vi-rút Ebola là phản ứng chuỗi polymerase sao chép ngược (RT-PCR) dương tính đối với vi-rút Ebola.[91] Nên yêu cầu xét nghiệm này ở tất cả các bệnh nhân nghi ngờ nhiễm Ebola trong khi bệnh nhân được cách ly. Ưu điểm của xét nghiệm này là trả kết quả từ 24 đến 48 giờ trước xét nghiệm ELISA. Hiện có một số kit PCR thương mại khác nhau với độ nhạy, độ đặc hiệu và ngưỡng phát hiện khác nhau.[92] Ở phương Tây, xét nghiệm chỉ có thể thực hiện ở các phòng thí nghiệm khu vực hoặc quốc gia có các trang thiết bị loại 4.[10] Trong các môi trường lưu hành dịch và tại một số quốc gia, các phòng thí nghiệm loại 4 được thiết lập tại địa phương và kết quả được trả sau 4 giờ kể từ khi mẫu bệnh phẩm được gửi đến. Có thể phát hiện được ARN vi-rút trong máu của bệnh nhân bằng RT-PCR từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6, cho đến 17 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng. Kết quả PCR dương tính có nghĩa là bệnh nhân có khả năng lây nhiễm, đặc biệt nếu họ đang bị tiêu chảy, nôn mửa, hoặc chảy máu. Nếu kết quả âm tính, cần phải làm lại xét nghiệm trong vòng 48 giờ do tải lượng vi-rút thấp và không thể phát hiện trong giai đoạn sớm của bệnh. Phải làm lại các xét nghiệm có kết quả âm tính để loại trừ chẩn đoán nếu mức độ nghi ngờ cao (hoặc khẳng định giải pháp điều trị bệnh).[91] Tải lượng vi-rút cao hơn tương ứng với kết quả bất lợi và tỷ lệ tử vong tăng.[20][21][22][62][76][91][93]

Việc lựa chọn có làm xét nghiệm vi-rút Ebola hay không dựa vào tiền sử của bệnh nhân và nguy cơ nhiễm bệnh của bệnh nhân theo quy trình điều trị dưới đây.

com.bmj.content.model.Caption@122d5bce[Figure caption and citation for the preceding image starts]: Quy trình thực hiện chẩn đoán cho những trường hợp nghi ngờ nhiễm vi-rút EbolaDo BMJ Evidence Centre xây dựng [Citation ends].

Bệnh sốt rét vẫn là nguyên nhân gây sốt phổ biến nhất ở những người sống/làm việc, hoặc những người du lịch vừa trở về từ vùng lưu hành dịch bệnh và cần được loại trừ.[94] Đồng nhiễm sốt rét đã xảy ra ở 5% bệnh nhân ở Tây Phi trong đợt dịch năm 2014, do đó cần cân nhắc khả năng nhiễm kép ở tất cả các bệnh nhân.[76] Trong trường hợp kết quả xét nghiệm chẩn đoán nhanh dương tính với bệnh sốt rét, cần phải điều trị nhiễm trùng đồng thời lưu ý nguy cơ nhiễm vi-rút Ebola của bệnh nhân và khả năng nhiễm trùng kép. Cần xem xét tình trạng nhiễm vi-rút Ebola ở bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp kháng sốt rét.

Khuyến cáo nên thực hiện các xét nghiệm xác nhận phù hợp đối với nhiễm virút Ebola trước hoặc đồng thời với các xét nghiệm phân biệt để phát hiện các tình trạng nghi ngờ khác nếu nghi ngờ bị nhiễm virút Ebola.

Các xét nghiệm khác

Theo phương thức truyền thống, không khuyến cáo làm xét nghiệm nào khác ngoài sàng lọc bệnh sốt rét và RT-PCR do lo ngại việc khiến cho các nhân viên phòng thí nghiệm gặp nguy cơ. Tuy nhiên, hiện nay người ta nhận thấy rằng có thể thực hiện các xét nghiệm khác an toàn theo các hướng dẫn khuyến cáo, miễn là phòng thí nghiệm được thông báo trước về mẫu bệnh phẩm, và máu được đóng gói và bảo quản đúng cách ở giai đoạn cuối cùng phòng trường hợp RT-PCR dương tính. Các quy trình tại địa phương cần phải rõ ràng về việc vận chuyển an toàn các bệnh phẩm đến các phòng thí nghiệm địa phương và phòng xét nghiệm tham chiếu, cũng như việc xử lý an toàn khi tiếp nhận bệnh phẩm trong phòng xét nghiệm địa phương.

Các xét nghiệm sau đây cung cấp thêm thông tin có giá trị cho việc thăm khám và giúp hướng dẫn xử lý tiếp theo, và nên được chỉ định thực hiện nếu có thể. Nếu các xét nghiệm bị hạn chế bởi vị trí địa lý hoặc cơ sở vật chất sẵn có, các xét nghiệm quan trọng nhất cần chỉ định là xét nghiệm về chức năng thận, điện giải đồ máu và lactate máu (nếu có).

Chức năng thận và điện giải đồ máu:

  • Creatinine hoặc urê huyết thanh tăng và điện giải đồ bất thường có thể là biểu hiện của tổn thương thận cấp tính. Điều này có thể được quan sát thấy vào cuối tuần đầu tiên khi nhiễm bệnh.[95] Hạ kali máu hoặc tăng kali máu do nôn mửa và tiêu chảy hoặc tổn thương thận cấp tính, được thấy ở khoảng 33% số ca bệnh trong đợt bùng phát năm 2014.[76] Hạ canxi máu có liên quan tới bệnh gây tử vong. Cũng có thể quan sát thấy tình trạng đái máu và protein niệu ở những bệnh nhân mắc bệnh nặng. Thiểu niệu không đáp ứng với liệu pháp bù dịch là dấu hiệu tiên lượng xấu.[16]

Lactate máu:

  • Tăng lactate là một dấu ấn của giảm tưới máu và là một dấu hiệu của sốc. Chỉ số này hữu ích ở những bệnh nhân nặng có các dấu hiệu nhiễm trùng huyết để xác định mức độ giảm tưới máu hệ thống và để hướng dẫn liệu pháp bù dịch.[96] Tăng Lactate là một dấu hiệu của nhiễm khuẩn huyết gram âm vào ngày 15 ở một bệnh nhân được điều trị tại Đức.[38]

ABG (Khí máu động mạch):

  • PH máu động mạch hoặc tĩnh mạch và bicarbonate hữu ích ở những bệnh nhân nặng có các dấu hiệu nhiễm khuẩn huyết để xác định mức độ giảm tưới máu hệ thống và để hướng dẫn liệu pháp bù dịch.[96]

Công thức máu:

  • Bệnh nhân có thể giảm số lượng tiểu cầu và giảm bạch cầu lympho rõ rệt ở các giai đoạn đầu khi nhiễm bệnh; tuy nhiên, đây không phải là biểu hiện mang tính chẩn đoán. Thông thường sau đó là tăng bạch cầu trung tính ở giai đoạn cuối của những bệnh nhân mà cuối cùng sẽ hồi phục, cùng với số lượng tiểu cầu trở về bình thường. Tăng bạch cầu có thể kéo dài và xuất hiện các hình thái chưa trưởng thành. Các bệnh nhân nặng có thể có giảm số lượng tiểu cầu tiến triển, như là một biểu hiện của đông máu nội mạch rải rác (DIC). Giảm haemoglobin được báo cáo ở 24% số bệnh nhân trong đợt bùng phát năm 2014,[76] và có liên quan đến xuất huyết trong các đợt bùng phát trước đó.[16]

Các xét nghiệm đông máu:

  • Thời gian prothrombin kéo dài (PT) hoặc thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) kéo dài có liên quan đến tình trạng bệnh nặng hơn và các biểu hiện chảy máu chẳng hạn như DIC. Đồng thời, đã phát hiện bệnh nhân tử vong có nồng độ D-dimer cao gấp bốn lần trong ngày thứ 6 đến ngày thứ 8 nhiễm bệnh so với bệnh nhân sống sót.[97]

Xét nghiệm chức năng gan:

  • Cả ALT và AST thường tăng lên; tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cho thấy rằng AST tăng không tương xứng với ALT, và điều này gợi ý tới tổn thương mô toàn thân hơn là tổn thương tế bào gan.[76] Tỷ lệ AST: ALT đạt đỉnh điểm ở mức 15:1 vào các ngày thứ 6 đến ngày thứ 8 nhiễm bệnh trong các ca tử vong khi so sánh với các ca không tử vong, đạt đỉnh điểm ở mức 5:1.[8][16][97] Bilirubin, GGT và ALP thường tăng nhẹ. ALT tăng cao và vàng da nghiêm trọng là dấu hiệu gợi ý một chẩn đoán khác (ví dụ: viêm gan do vi-rút).

Amylase huyết thanh:

  • Amylase trong máu tăng đã được báo cáo trong một số nghiên cứu chứng tỏ có biểu hiện của viêm tụy, một dấu hiệu nặng của bệnh.[16]

Glucose huyết thanh:

  • Có thể có hạ đường huyết ở người lớn, nhưng thường không được báo cáo.[22] Tuy nhiên, tình trạng này phổ biến ở trẻ em và là dấu hiệu nặng. Đây là nguyên nhân gây lú lẫn có thể hồi phục.[84][85]

Cấy máu:

  • Kết quả cấy máu âm tính rất hữu ích vì có thể loại trừ các nguyên nhân nhiễm bệnh khác không do vi-rút (ví dụ: nhiễm trùng huyết, sốt thương hàn). Nhiễm khuẩn huyết gram âm, được cho là do thẩm lậu vi khuẩn đường ruột, và là một biến chứng của bệnh gặp ở hai bệnh nhân.[98][38] Tuy nhiên, một nghiên cứu tại Sierra Leone, nơi thực hiện cấy máu từ các bệnh nhân được nhập viện điều trị Ebola cho thấy chỉ có một trong số 22 mẫu nuôi cấy có kết quả dương tính với mẫu bệnh phẩm nghi nhiễm.[99] Do đó, nên cấy máu thường quy và/hoặc vào thời điểm khởi phát các triệu chứng đường tiêu hóa hoặc khi triệu chứng lâm sàng khác xấu đi.

Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme (ELISA) phát hiện kháng nguyên:

  • Xét nghiệm chẩn đoán hữu ích với độ đặc hiệu cao; tuy nhiên, xét nghiệm này không sẵn có ở mọi nơi. Thường cho kết quả dương tính từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 sau khi nhiễm bệnh và có thể cho các kết quả thay đổi từ ngày 7 đến ngày 16.[43] Có thể được sử dụng để khẳng định chẩn đoán cùng với kết quả RT-PCR dương tính.

Kháng thể IgM và IgG:

  • Hữu ích trong giai đoạn muộn của bệnh. Kháng thể IgM có thể xuất hiện trong huyết thanh sớm nhất là ngày thứ 2 sau nhiễm bệnh, nhưng có thể cho kết quả thay đổi cho đến ngày thứ 9. Kết quả này trở thành âm tính từ ngày 30 đến ngày 168 sau khi khởi phát các triệu chứng. Phản ứng IgG phát triển từ ngày 6 đến ngày 18 và có thể kéo dài trong nhiều năm. Kết quả IgM dương tính hoặc hiệu giá kháng thể IgG tăng là bằng chứng rõ ràng cho thấy bệnh nhân bị nhiễm vi-rút Ebola gần đây.[43]

X quang ngực

  • Hữu ích với những bệnh nhân có các triệu chứng hô hấp. Thâm nhiễm phổi không phải là điển hình khi nhiễm bệnh và gợi ý chẩn đoán khác (hoặc bệnh đi kèm). Có thể khó sắp xếp bệnh nhân trong một phòng cách ly và nên đưa ra chỉ định một cách thận trọng để tránh lây bệnh.[100]

Xét nghiệm chẩn đoán nhanh

Xét nghiệm PCR nhanh đối với nhiễm vi-rút Ebola vẫn là một trở ngại chính cho việc cách ly hiệu quả và có mục tiêu những bệnh nhân bị bệnh . Các xét nghiệm hiện tại phải mất trung bình là 4 giờ để thực hiện với một phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 3 hoặc 4 được trang bị đầy đủ có sẵn, nhưng có thể mất vài ngày mới gửi được kết quả đến các vùng hẻo lánh. Điều này có nghĩa là, cho đến khi kết quả được khẳng định là âm tính, bệnh nhân có sốt không nhiễm vi-rút Ebola vẫn bị cách ly và thường vô tình bị phơi nhiễm với vi-rút. Do đó, các xét nghiệm nhanh tại giường bệnh có thể góp phần đáng kể vào việc kiểm soát nhiễm trùng tại các trung tâm điều trị.

World Health Organization (WHO): interim guidance on the use of rapid Ebola antigen detection tests external link opens in a new window

Một số công nghệ khác nhau đang được WHO đánh giá để sử dụng trong điều kiện tại thực địa. Các công nghệ này bao gồm nhiều phân tích dựa trên RT-PCR đã được đơn giản hóa để sử dụng với thời gian quay vòng ngắn hơn là <1 giờ. WTO đã đưa ra Bộ Xét nghiệm Nhanh Kháng nguyên ReEBOV™ có tiềm năng để sử dụng; tuy nhiên, hiện tại bộ này chỉ được khuyến cáo sử dụng trong những tình huống đặc biệt. Các phương pháp thay thế là các xét nghiệm phát hiện kháng nguyên dựa trên ELISA có thể cho kết quả nhanh hơn và đơn giản hơn với lợi thế là chỉ cần một giọt máu. Bất lợi lớn nhất của phương pháp này là giảm độ nhạy, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của bệnh.[101][102] Công nghệ Nanopore (Vi lỗ) có thể cho phép phát hiện nhanh và giải trình tự gen dù lượng vi-rút rất thấp và có thể được triển khai sử dụng như bộ dụng cụ phát hiện bỏ túi.[103][104] Xét nghiệm nhanh giải trình tự gen vi-rút Ebola sử dụng các công nghệ mới này trong đợt bùng phát dịch có thể cho phép hiểu biết về động lực vi-rút trong thời gian thực.[105]

Công cụ chẩn đoán GeneXpert® đã được phát triển và thử nghiệm trong thực địa. Xpert® Ebola là một hệ thống dựa trên hộp tự động đòi hỏi phải có kỹ năng phòng thí nghiệm ở mức tối thiểu. Một mẫu bệnh phẩm khử hoạt tính được đặt vào một hộp sử dụng một lần, sau đó hộp này được đưa vào một máy kín. Chuẩn bị mẫu, khuếch đại và phát hiện axit nucleic, và đưa ra kết quả là các quy trình tự động, giảm thiểu yêu cầu đào tạo nhân viên, nguy cơ lây nhiễm và lây nhiễm chéo.[106]Xét nghiệm này đã được sử dụng trên thực địa trong đợt bùng phát năm 2018 ở Cộng hòa Dân chủ Congo.

Đây là một lĩnh vực phát triển nhanh chóng và các kit khác nhau được phê duyệt theo từng quốc gia và cơ sở nơi bộ kit đó sẽ được triển khai. Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và WHO đưa ra khuyến cáo:

World Health Organization (WHO): clinical management of patients with viral haemorrhagic fever: a pocket guide for the front-line health worker external link opens in a new window

Centers for Disease Control and Prevention (CDC): Ebola diagnosis external link opens in a new window

Public Health England: Ebola virus disease - clinical management and guidance external link opens in a new window

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi