Bệnh căn học

Vi-rút Ebola thuộc họ Filoviridae (chi Ebolavirus, bộ: Mononegavirales). Các loại vi-rút này có hình thon dài, các cấu trúc dạng sợi với độ dài khác nhau.com.bmj.content.model.Caption@772c6258[Figure caption and citation for the preceding image starts]: Ảnh hiển vi điện tử về sự lây truyền cho thấy một số hình thái siêu cấu trúc được biểu hiện bởi hạt vi-rút Ebola (Ebola virus virion)Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh [Citation ends].

Vi-rút này ban đầu được cho là mắc phải do phơi nhiễm với dịch tiết cơ thể hoặc mô từ các động vật bị nhiễm bệnh như loài dơi và động vật linh trưởng không phải con người; tuy nhiên, vẫn chưa xác nhận được ổ chứa tự nhiên và phương thức lây truyền sang người.[32] Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm về khả năng của ổ chứa cho thấy rằng có thể gây nhiễm thành công ở loài dơi và động vật gặm nhấm, nhưng không thành công ở thực vật hoặc động vật chân đốt.[33][34][35] Có thể diễn ra quá trình lây truyền từ động vật sang người trong khi săn bắt và ăn thịt các loài là ổ chứa hoặc động vật linh trưởng không phải là con người bị nhiễm bệnh. Thói quen ăn thịt thú rừng tại địa phương hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn bởi phân dơi (3 loài dơi ngủ trên cây cũng được xem là ổ chứa) cũng được cho là nguyên nhân góp phần lây nhiễm.

com.bmj.content.model.Caption@554f1526[Figure caption and citation for the preceding image starts]: Sinh thái học của vi-rút Ebola cho thấy chu trình gây dịch cục bộ và dịch lan rộng ở động vậtTrung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh [Citation ends].

Sự lây truyền từ người sang người xảy ra khi tiếp xúc với dịch tiết cơ thể của người bị bệnh.[36] Ở các vùng lưu hành dịch ban đầu, việc tái sử dụng mũi tiêm không vô khuẩn là nguyên nhân tạo ra những lây nhiễm liên quan đến chăm sóc sức khoẻ.[24] Tuy nhiên, mặc dù vẫn tồn tại nguy cơ, nhưng hầu hết các ca bệnh đều do tiếp xúc gần gũi với cơ thể hoặc dịch tiết cơ thể (ví dụ như mồ hôi, máu, phân, chất nôn, nước bọt, dịch tiết từ bộ phận sinh dục [kể cả tinh trùng], và sữa mẹ) của bệnh nhân.

Mức độ vi-rút trong máu tăng lên trong suốt quá trình mắc bệnh và bệnh nhân có nhiều khả năng lây nhiễm nhất trong các giai đoạn sau đó (tức là, trong giai đoạn bị tiêu chảy, nôn mửa và xuất huyết).[37] Có thể tìm thấy một lượng lớn vi-rút trong da và, vì mồ hôi cũng có thể chứa vi-rút, nên nếu chạm vào một bệnh nhân bị nhiễm bệnh có thể làm lây truyền vi-rút.[38] Các sự kiện tổ chức rộng khắp trong cộng đồng cũng ngày càng được ghi nhận là một yếu tố góp phần lây nhiễm: một đám tang của lang y ở Sierra Leone vào năm 2015 có liên quan đến 300 ca bệnh.[39] Trong một nghiên cứu, người ta phát hiện ra rằng các siêu tác nhân lây lan là nguyên nhân gây ra khoảng 61% số ca nhiễm trong đợt bùng phát dịch năm 2014.[40]

Trong một nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ vi-rút đào thải trong các loại dịch tiết cơ thể khác nhau, Ebola virus được phân lập từ nước bọt, sữa, phân, nước mắt và tinh dịch cho thấy vi-rút có thể đào thải lên đến 40 ngày sau khi khởi phát bệnh.[41][42][43] Vẫn có thể phát hiện vi-rút trong tinh dịch trong hơn 12 tháng sau khi khỏi bệnh, có thể do mô tinh hoàn là một nơi có đặc quyền miễn dịch (chấp nhận kháng nguyên mà không giải phóng các đáp ứng viêm nhằm giảm thiểu tác động hủy hoại mô do miễn dịch).[44] Điều này có nghĩa là lây truyền qua đường tình dục có thể kéo dài sau khi khỏi bệnh,[41][42][43][45][46] và những trường hợp này đã được xác nhận trong và sau đợt bùng phát năm 2014.[47][48][49] Vi-rút Ebola cũng đã được phát hiện trong dịch âm đạo.[50] V-rút có thể tiếp tục nhân lên từ nước tiểu và mồ hôi. Ở một bệnh nhân đã hồi phục ở Đức đã phát hiện được vi-rút trong nước tiểu 14 ngày, và trong mồ hôi với thời gian lên đến 19 ngày sau khi vi rút không phát hiện được trong huyết thanh.[38]

Nhiễm khuẩn qua đường hô hấp đã được chứng minh có thể xảy ra đối với động vật linh trưởng không phải là con người; tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy đường lây truyền qua không khí ở người.[14][51] Vẫn cần phải xem xét khả năng lây truyền qua không khí của vi-rút khi bị nôn mửa dữ dội (tương tự như nhiễm norovirus) và trong các thủ thuật tạo ra giọt nước có chứa vi-rút liên quan đến các biện pháp can thiệp chăm sóc đặc biệt.

Ngoài các vùng lưu hành dịch bệnh, trường hợp nhiễm vi-rút Ebola rất hiếm gặp và thường là nhiễm vi-rút từ nơi khác đến.[52] Khách du lịch đến từ các vùng bị ảnh hưởng, cũng như các nhà khoa học trong phòng thí nghiệm và những người khác tiếp xúc với các vật liệu và động vật có nguy cơ bị nhiễm bệnh, đều có nguy cơ bị nhiễm cao.

Centers for Disease Control and Prevention (CDC): Ebola transmission external link opens in a new window

Sinh lý bệnh học

Đã có những tiến bộ đáng kể trong việc làm sáng tỏ sinh bệnh học của tình trạng nhiễm vi-rút Ebola; tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu được thực hiện trên mô hình loài linh trưởng không phải con người và các loài gặm nhấm.[10] Điều này là do những khó khăn trong việc tiến hành các nghiên cứu trên người tại những nước nghèo, nơi mà bệnh truyền nhiễm xảy ra thường xuyên.

Hệ gen của vi-rút bao gồm một chuỗi đơn ARN âm 19kb với 7 gen vi-rút được phiên mã bởi ARN polymerase phụ thuộc ARN có trong hạt virion. Chuỗi đơn ARN được bao phủ bởi các nucleoprotein NP và VP30 vi-rút được sắp xếp theo hình xoắn ốc liên kết bởi các protein ma trận VP24 và VP4 với mô hình hai lớp lipid bao phủ hạt virion.[14] Đột biến nhanh của vi-rút xuất hiện vào đợt bùng phát dịch năm 2014, làm gia tăng mối lo ngại về khả năng tránh né phản ứng miễn dịch của cơ thể và phát triển dù có các liệu pháp điều trị mới.[53][54]

Thời kỳ ủ bệnh là từ 2 đến 21 ngày (thường từ 3-12 ngày).[2] Xâm nhập vào tổ chức sau khi da hoặc niêm mạc bị tổn thương tiếp xúc với dịch tiết cơ thể của người bệnh. Có thể lây truyền từ động vật sang người hoặc từ người sang người. Sau khi bị nhiễm khuẩn, filovirus nhân lên trước tiên trong các bạch cầu đơn nhân, đại thực bào và các tế bào hình sao. Các tế bào chứa các vi-rút di chuyển đến các hạch bạch huyết khu vực, gan và lách, từ đó làm lây lan vi-rút. Vi-rút Ebola có ái tính cao với tế bào và có khả năng lây nhiễm nhiều loại tế bào khác nhau, nhưng đặc biệt vi-rút nhân lên nhanh chóng ở mô lympho, gan và lách.[10][14][55] Vi-rút Ebola cũng có khả năng đặc biệt là điều chỉnh biểu hiện của các gen liên quan đến phản ứng miễn dịch của vật chủ, gây chết tế bào lympho theo chương trình và làm suy giảm các tác dụng bảo vệ của interferon.[56][57][58][59][60]

Phản ứng miễn dịch của vật chủ rất quan trọng và quyết định kết quả của nhiễm trùng. Tiến triển đến giai đoạn cuối trầm trọng của bệnh khi vi-rút kích thích cơ thể tiết ra một loạt các cytokine gây viêm, bao gồm: interferon; interleukin (IL) như IL-2, IL-6, IL-8, và IL-10; protein tiết interferon; và yếu tố hoại tử u (TNF)-alpha.[10][14][61] Nói cách khác, điều này làm kích hoạt yếu tố nội mô và giảm tính toàn vẹn của mạch máu, giải phóng yếu tố mô (kết hợp khởi phát rối loạn đông máu), và tăng nồng độ nitric oxit (kèm theo hạ huyết áp).[62] Nhiễm khuẩn dẫn đến suy giảm tế bào lympho thông qua cơ chế gây chết tế bào theo chương trình gián tiếp (vì vi-rút không nhân lên trong tế bào lympho), và ức chế bạch cầu trung tính bằng glycoprotein GP.[63] Nguyên nhân thường gặp nhất gây ra tình trạng giảm tiểu cầu là không có tiểu cầu do mô bị tổn thương hoặc đông máu nội mạch rải rác trên toàn thân do vi-rút gây ra, trong trường hợp các yếu tố đông máu đã cạn kiệt.[64] Đông máu nội mạch rải rác, cùng với suy gan cấp, làm cho bệnh nhân gặp các biến chứng xuất huyết. Các biến chứng khác của bệnh nặng bao gồm tổn thương thận cấp tính, viêm gan và viêm tụy.[14] Đáp ứng kháng thể sớm, cùng với suy giảm tế bào lympho, có liên quan đến hiệu quả đào thải vi-rút và tỷ lệ sống sót.[65] Phương pháp phân tích tế bào theo dòng chảy, được sử dụng tại một trung tâm điều trị ở Guinea trong đợt bùng phát dịch năm 2014, cho thấy sự rối loạn tế bào T (đặc trưng bởi biểu hiện cao hơn của CTLA-4 và PD-1 trên tế bào CD4 và CD8) có liên quan đến tử vong. Điều này khẳng định các ý kiến trước đó về phản ứng miễn dịch đầy đủ, nhưng có kiểm soát là yếu tố quan trọng đối với tỷ lệ sống sót.[66]

Hiện vẫn chưa hiểu rõ nguyên nhân gây sốc. Nhiều yếu tố có thể góp phần, bao gồm: nhiễm khuẩn huyết, có thể sự chuyển vị của vi khuẩn đường ruột; tác động trực tiếp của vi-rút; đông máu nội mạch rải rác; hoặc xuất huyết.[61]

Phân loại

Phân loại vi-rút

Vi-rút này thuộc họ Filoviridae (chi: Ebolavirus). Năm loài vi-rút Ebola khác nhau đã được phân lập từ các vùng lưu hành dịch khác nhau, chủ yếu ở các nước châu Phi, ngoại trừ vi-rút Reston có nguồn gốc từ Philippines.[1] Vi-rút Reston chưa bao giờ gây ra triệu chứng trên người. Bốn loài vi-rút còn lại gây ra các hội chứng lâm sàng gần giống nhau với mức độ nặng khác nhau, và tỷ lệ tử vong được báo cáo là từ 20% đến 90% trong các đợt dịch khác nhau (trung bình khoảng 50% tại đa số các trung tâm điều trị trong đợt dịch năm 2014 ở Tây Phi).[2]Zaire ebolavirus và Sudan ebolavirus đặc biệt được biết đến vì độc lực của chúng; các loại vi-rút còn lại được coi là ít độc lực hơn. Việc phân loài vi-rút vẫn được tiếp tục, nổi lên những cái tên mới dành cho các biến thể vi-rút.[4]

Zaire ebolavirus:

  • Được phân lập lần đầu tiên vào năm 1976 trong một đợt bùng phát ở phía bắc Zaire (nay gọi là Cộng hòa Dân chủ Congo, hoặc DRC).[5] Dường như là loài độc lực nhất trong 5 loài và có tỷ lệ tử vong ca bệnh cao nhất trong số tất cả các loài.[6] Zaire ebolavirus là nguyên nhân gây ra đợt bùng phát bắt đầu tại Tây Phi vào năm 2014. Đợt bùng phát riêng biệt, có giới hạn ở DRC vào năm 2014 là do chủng Zaire ebolavirus gây ra, khác với chủng vi-rút lan truyền ở Tây Phi.[7]

Sudan ebolavirus:

  • Được phân lập lần đầu tiên vào năm 1976 trong một đợt bùng phát dịch ở phía nam Sudan. Gây ra hội chứng giống hệt với Zaire ebolavirus; tuy nhiên, tỷ lệ tử vong ca bệnh thấp hơn.[6]

Tai Forest ebolavirus (trước đây gọi là Cote d'Ivoire ebolavirus):

  • Chỉ có 1 ca bệnh được ghi nhận vào năm 1994, đó là ca bệnh của một nhà nghiên cứu Thụy Sĩ, người đã mổ tử thi cho một con tinh tinh chết ở Vườn Quốc gia Tai thuộc Cote d’Ivoire.[8] Cô ấy đã hồi phục sau giai đoạn sốt của bệnh mà không có biến chứng xuất huyết.

Bundibugyo ebolavirus:

  • Được phát hiện vào năm 2007 trong một đợt bùng phát riêng lẻ tại quận Bundibugyo thuộc miền tây Uganda. Vi-rút được phân lập này được xác định là một loài khác biệt, có họ hàng xa với Tai Forest ebolavirus.[9]

Reston ebolavirus:

  • Được phân lập lần đầu tiên tại Reston, Virginia, Mỹ vào năm 1989. Vi-rút này được tìm thấy ở những con khỉ Cynomolgus nhập khẩu từ Philippines. Một số công nhân tiếp xúc với động vật bị bệnh được phát hiện có huyết thanh dương tính, nhưng không có triệu chứng lâm sàng. Kể từ đó, vi-rút này cũng đã được phân lập từ lợn ở Philippines.[10][11]

Các nhiễm trùng do filovirus khác

Các vi-rút thuộc họ Filoviridae bao gồm: vi-rút Ebola, vi-rút Marburg và Cuevavirus. Vi-rút Marburg là thành viên duy nhất còn lại trong nhóm này gây nhiễm khuẩn ở người. Vi-rút này được phân lập từ dơi và gây ra một hội chứng tương tự như nhiễm vi-rút Ebola. Một số đợt dịch bùng phát đã được báo cáo, thường liên quan đến việc tiếp xúc với động vật trong các hầm mỏ hoặc hang động.[12]

Việc sử dụng nội dung này phải tuân thủ tuyên bố miễn trách nhiệm của chúng tôi